Nhà thơ duy nhất của phong trào Thơ mới được phong NSND: Là 'ông hoàng' của thơ ca Việt Nam, vợ và con đều là NSND nổi tiếng

Đời sống 13/05/2026 20:54

Không chỉ được biết đến như một nghệ sĩ tài hoa của văn học và sân khấu Việt Nam, "ông hoàng thơ ca" còn khiến nhiều người ngưỡng mộ bởi cuộc đời và gia đình giàu truyền thống nghệ thuật.

"Ông hoàng thơ ca" của phong trào Thơ mới

Trong lịch sử văn thơ Việt Nam, phong trào Thơ mới là bước chuyển mình mạnh mẽ, không chỉ đổi mới về hình thức nghệ thuật mà còn mở ra một thế giới cảm xúc giàu tính cá nhân, trẻ trung và đầy sức sống. Trong phong trào ấy có nhiều tên tuổi lớn đã ghi dấu ấn sâu đậm như Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận… Tuy nhiên, nổi bật hơn cả là Thế Lữ - người được xem như “ông hoàng thơ ca”, là một trong những người đặt nền móng cho phong trào Thơ mới.

Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, sinh năm 1907 tại Hà Nội. Năm 11 tuổi, ông theo gia đình về Hải Phòng học trung học. Đến năm 23 tuổi, ông thi vào trường Mỹ thuật nhưng bỏ dở ngay trong năm học đầu tiên để theo đuổi con đường văn thơ.

Năm 1932, Thế Lữ tham gia Tự Lực văn đoàn và nhanh chóng trở thành cây bút chủ lực của hai tờ báo nổi tiếng lúc bấy giờ là Phong Hóa và Ngày Nay. Chỉ trong vòng khoảng 7 năm, ông đã xuất bản hai tập thơ và nhanh chóng trở thành hiện tượng đặc biệt của thi đàn Việt Nam. Khi mới 30 tuổi, Thế Lữ đã để lại dấu ấn sâu đậm và được công nhận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời đại với phong cách sáng tác độc đáo, mới lạ.

nhathothelu2_1778680407.jpg
Nhà thơ Thế Lữ. Ản: Internet.

Thơ của Thế Lữ nổi tiếng bởi tinh thần phá bỏ những khuôn mẫu cũ của văn học phong kiến, hướng đến khẳng định cái tôi cá nhân và đời sống nội tâm phong phú của con người. Những sáng tác của ông đã đem đến luồng sinh khí mới cho thế hệ thanh niên đương thời, đồng thời góp phần quan trọng vào quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam. Trong đó, Nhớ rừng là tác phẩm tiêu biểu của ông, được đưa vào chương trình giảng dạy trong sách giáo khoa phổ thông.

Không chỉ thành công ở lĩnh vực thơ ca, Thế Lữ còn thể hiện niềm say mê nghệ thuật qua văn xuôi. Ngay từ những ngày đầu tham gia Tự Lực văn đoàn, ông đã khẳng định tài năng bằng hàng loạt tác phẩm thuộc nhiều thể loại như trinh thám, kinh dị và khoa học viễn tưởng. Một số tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như Vàng và máu (1934), Bên đường Thiên Lôi (1936), Gói thuốc lá (1940), Gió trăng ngàn (1941), Trại Bồ Tùng Linh (1941)… Những sáng tác này cho thấy khả năng sáng tạo phong phú cùng tư duy nghệ thuật hiện đại của ông.

Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động văn chương, Thế Lữ nhận ra rằng thơ ca, truyện ngắn hay báo chí vẫn chưa đủ để diễn tả trọn vẹn vẻ đẹp nghệ thuật mà ông theo đuổi. Vì thế, ông quyết định tìm đến sân khấu kịch như một hướng đi mới cho sự sáng tạo.

Ông dành toàn bộ tâm huyết để nghiên cứu, dàn dựng và phát triển kịch nói và là một trong những người đầu tiên đưa kịch nói đến gần công chúng Việt Nam, đồng thời góp phần biến loại hình nghệ thuật này từ hình thức nghiệp dư trở thành sân khấu chuyên nghiệp. Ông cũng được xem là đạo diễn kịch nói đầu tiên của Việt Nam, là người sáng lập nhiều đoàn kịch nổi tiếng như Ban kịch Tinh Hoa (1938), Ban kịch Thế Lữ (1941) và Ban kịch Anh Vũ (1943). Những đóng góp to lớn ấy đã giúp ông trở thành người đặt nền móng cho nền kịch nói hiện đại nước ta.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Thế Lữ nhiệt tình tham gia vào các hoạt động nghệ thuật phục vụ kháng chiến. Trong những năm chống thực dân Pháp, ông cùng đoàn kịch của mình lên chiến khu Việt Bắc biểu diễn, góp phần cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.

Đến năm 1957, khi Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam được thành lập, Thế Lữ được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch và giữ cương vị này suốt 20 năm, đến năm 1977. Trong hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghệ thuật sân khấu, ông đã tham gia diễn xuất trong hàng trăm vở kịch, đạo diễn nhiều tác phẩm lớn và có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền sân khấu dân tộc hiện đại.

Năm 1984, Thế Lữ là một trong những nghệ sĩ đầu tiên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân (NSND). Ông cũng là nhà thơ duy nhất của phong trào Thơ mới vinh dự nhận danh hiệu cao quý này, khẳng định những đóng góp to lớn không chỉ trong lĩnh vực thi ca mà còn ở vai trò người tiên phong đặt nền móng cho nghệ thuật kịch nói Việt Nam hiện đại.

Gia đình nghệ sĩ tiêu biểu của Việt Nam

Không chỉ được biết đến như một nghệ sĩ tài hoa của văn học và sân khấu Việt Nam, Thế Lữ còn khiến nhiều người ngưỡng mộ bởi cuộc đời và gia đình giàu truyền thống nghệ thuật. Năm 17 tuổi, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Khương, hơn ông 2 tuổi và có với nhau 4 người con, gồm 3 con trai và một con gái tên là Nghi, Tâm, Học và Tùng.

Sau năm 1954, vợ cùng 3 người con của ông di cư vào miền Nam, mãi đến năm 1979 gia đình mới có dịp đoàn tụ sau nhiều năm xa cách.

nhathothelu_1778680404.jpg
Nhà thơ Thế Lữ khiến nhiều người ngưỡng mộ bởi cuộc đời và gia đình giàu truyền thống nghệ thuật. Ảnh: Internet.

Sinh trưởng trong gia đình có người cha nổi tiếng về thơ ca, văn chương và sân khấu, con trai cả của Thế Lữ là Nguyễn Đình Nghi cũng sớm bộc lộ năng khiếu nghệ thuật. Nguyễn Đình Nghi (1928 - 2001) được cha trực tiếp truyền dạy về sân khấu từ nhỏ và sau này trở thành đạo diễn nổi tiếng của nền kịch Việt Nam. Với những đóng góp lớn cho nghệ thuật, ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân vào năm 1988.

Con dâu cả của Thế Lữ - NSƯT Mỹ Dung, vợ của Nguyễn Đình Nghi - cũng là diễn viên kịch nói quen thuộc của Nhà hát Kịch Việt Nam.

Sau này, Thế Lữ nên duyên cùng người vợ thứ 2 là nghệ sĩ Song Kim. Nhờ sự dìu dắt và hỗ trợ tận tình của Thế Lữ, Song Kim đã trưởng thành và trở thành một trong những nữ diễn viên tiêu biểu của sân khấu kịch nói Việt Nam thời kỳ đầu. Đặc biệt, vào năm 1984, cả hai vợ chồng đều được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân trong đợt trao tặng đầu tiên của Nhà nước.

Thế Lữ qua đời năm 1989, để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong lòng giới văn nghệ sĩ và đông đảo công chúng yêu nghệ thuật.

Linh Chi
Tin đáng đọc