Căn nhà rộng 200m² được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn bó lâu nhất lúc sinh thời, mặt tiền hướng ra con đường rợp mát bậc nhất Hà Nội

Đời sống • 21/10/2026 16:37

Từ sau năm 2013, ngôi nhà trở thành địa chỉ để người dân, cựu chiến binh, đoàn viên, thanh niên và khách thập phương đến dâng hương tưởng niệm.

vng1_1792492370.jpg
Ngôi nhà của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là "địa chỉ đỏ" thiêng liêng, được người dân và khách thập phương tìm đến để dâng hương tưởng niệm. Ảnh: Báo Lào Cai

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị Tổng Tư lệnh gắn với những chiến thắng có ý nghĩa quyết định trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam, từ Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Gần 60 năm, từ sau ngày Thủ đô giải phóng năm 1954 đến khi qua đời ngày 4/10/2013, Đại tướng sống cùng gia đình tại căn nhà số 30 Hoàng Diệu (Hà Nội). 

Ngôi nhà đối diện khu Tổng hành dinh, lưu giữ nhiều kỷ vật gắn với sự nghiệp quân sự, những cuộc gặp gỡ với đồng đội và cuộc sống đời thường của vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngôi nhà gắn bó gần 60 năm với Đại tướng

Sau ngày 10/10/1954, gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp chuyển về sinh sống tại căn biệt thự số 30 Hoàng Diệu. 

Căn biệt thự được xây dựng từ thời Pháp, có diện tích khoảng 200m², nằm trong khuôn viên gồm sân vườn, ao cá và nhiều cây xanh. Mặt tiền hướng ra phố Hoàng Diệu - một trong những con đường luôn rợp mát và ít xe cộ đi lại tại Hà Nội. Phía đối diện biệt thự là Tổng hành dinh của Quân đội nhân dân Việt Nam - nơi Đại tướng từng điều hành các hoạt động quân sự trong những năm chiến tranh.

vng2_1792492370.jpg
vng5_1792492368.jpg
Khu vườn trong căn nhà số 30 Hoàng Diệu có nhiều cây xanh, hoa cảnh, hồ cá và giàn phong lan. Ảnh: Internet

Sau nhiều thập kỷ, ngôi nhà vẫn lưu giữ những dấu tích gắn với sinh hoạt thường ngày của gia đình. Khu vườn có những lối đi nhỏ, giàn phong lan, bể cá và bộ bàn ghế đá. Đây là những địa điểm Đại tướng thường lui tới sau giờ làm việc, dành thời gian chăm sóc cây cảnh, cho cá ăn hoặc tiếp khách.

Đại tướng có niềm yêu thích đặc biệt với hoa lan từ những năm 1960. Giàn treo phong lan trong khu vườn được làm từ những ống tút đạn pháo 155mm do bộ đội sử dụng trong chiến tranh. Theo bà Mạc Thị Thúy Hường - con dâu út của Đại tướng, ông thường ngắm hoa và chăm sóc cây cối trong vườn. Những năm cuối đời, khi sức khỏe suy yếu, gia đình đưa ông ra vườn bằng xe lăn để ngắm cây và hoa. 

Bể cá cùng bộ bàn ghế đá cũng là những chi tiết gắn với sinh hoạt của Đại tướng. Bộ bàn ghế được bộ đội công binh làm tặng năm 1968. Khi còn khỏe, ông thường ngồi tại đây tiếp khách, trò chuyện với đồng đội và những người thân thiết.

Khu vườn tại số 30 Hoàng Diệu còn gắn với một cuộc gặp mang ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử quân đội Việt Nam. 

Ngày 5/7/1967, trước khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào chiến trường miền Nam theo phân công của Bộ Chính trị, 2 vị tướng đã trải bản đồ chiến sự trên bộ bàn đá trong khuôn viên nhà Đại tướng Võ Nguyên Giáp để trao đổi công việc. Đó cũng là lần gặp cuối cùng của hai người. Ngày 6/7/1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh qua đời đột ngột do một cơn đau tim nặng, để lại niềm tiếc thương đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước.

Bên cạnh khu vườn là nhà làm việc của Đại tướng - nơi lưu giữ hàng nghìn kỷ vật, tranh ảnh, tượng và bức trướng do đồng bào, chiến sĩ cả nước cùng bạn bè quốc tế trao tặng. Trong căn phòng này có đôi câu đối của Giáo sư Vũ Khiêu: “Võ công truyền quốc sử/Văn đức quán nhân tâm”, khắc họa công lao quân sự và phẩm chất của Đại tướng.

vng4_1792492369.jpg
Bức chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp được ghép từ 8.800 bức ảnh tư liệu. Ảnh: Báo Lào Cai

Bàn làm việc cùng 2 chiếc ghế đặt giữa phòng từng là nơi Đại tướng và phu nhân - Giáo sư Đặng Bích Hà, tiếp khách. Những bức ảnh ghi lại các chặng đường hoạt động cách mạng, hình ảnh đồng đội và các kỷ vật chiến tranh được gìn giữ qua nhiều năm, tạo nên không gian lưu niệm về cuộc đời của vị Tổng Tư lệnh.

Trong nhà còn có nhiều đầu sách, phản ánh thói quen đọc sách và sự quan tâm của Đại tướng đối với tri thức. Theo những người thân trong gia đình, ông thường mang theo sách mỗi khi đi công tác hoặc nghỉ dưỡng. “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du là cuốn sách ông yêu thích.

Ngày 4/10/2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, hưởng thọ 103 tuổi. Sau khi Đại tướng mất, gia đình gìn giữ căn nhà số 30 Hoàng Diệu cùng những đồ vật, kỷ vật gắn với cuộc sống của ông. Phòng khách trước đây được chuyển thành nơi thờ phụng Đại tướng.

Căn nhà còn lưu giữ bức chân dung Đại tướng được ghép từ 8.800 bức ảnh tư liệu về cuộc đời ông, từ thời niên thiếu đến những năm cuối đời. Tác phẩm do họa sĩ Nguyễn Minh ở Đồng Nai thực hiện, hoàn thành nhân dịp Đại tướng tròn 100 tuổi.

Từ sau năm 2013, số nhà 30 Hoàng Diệu trở thành địa chỉ để người dân, cựu chiến binh, đoàn viên, thanh niên và khách thập phương đến dâng hương tưởng niệm. Vào các dịp kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Ngày Giải phóng miền Nam 30/4, Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 và sinh nhật Đại tướng 25/8, nhiều đoàn khách đến thăm, bày tỏ lòng tri ân đối với người đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

vng3_1792492369.jpg
Chiếc đồng hồ trong phòng khách của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (nay là phòng thờ) ghi giữ lại thời khắc Đại tướng qua đời lúc 18h09 phút ngày 4/10/2013. Ảnh: Báo Lào Cai
vng9_1792492368.jpg
Người dân đến thắp hương nhân 10 năm ngày mất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Báo Quảng Bình

Vị tướng gắn với những bước ngoặt của lịch sử dân tộc

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình cũ (nay thuộc Quảng Trị), trong một gia đình nhà nho yêu nước. Từng học tại Quốc học Huế, ông tham gia các tổ chức yêu nước và hoạt động cách mạng, bị thực dân Pháp bắt giam hai năm vì ủng hộ phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh. Trước khi gắn bó với sự nghiệp quân sự, ông từng làm giáo viên và viết báo.

Tháng 4/1940, ông cùng đồng chí Phạm Văn Đồng được giao sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đầu tháng 6 cùng năm, ông gặp Người tại Thúy Hồ (Côn Minh, tỉnh Vân Nam). Cuối năm 1944, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông thành lập và chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 chiến sĩ. Ngày 22/12/1944, đơn vị chính thức ra đời, trở thành tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

vng6_1792492377.png
Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1940. Ảnh: Báo Nhân dân

Ngày 28/5/1948, ở tuổi 37, ông được phong quân hàm Đại tướng, trở thành vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong những năm tiếp theo, ông đảm nhiệm nhiều trọng trách như Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Phó Thủ tướng. Ông giữ cương vị Tổng Tư lệnh trong 32 năm, trước khi nghỉ công tác năm 1991.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại tướng trực tiếp chỉ đạo nhiều chiến dịch lớn, trong đó có Chiến dịch Biên giới năm 1950, các chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc và Thượng Lào. Tại Chiến dịch Biên giới, sau quá trình trinh sát và cân nhắc tương quan lực lượng, ông quyết định chuyển hướng tiến công từ Cao Bằng sang Đông Khê. Đông Khê là vị trí then chốt trên tuyến phòng thủ của quân Pháp. Chiến thắng tại đây khiến đối phương phải đưa quân lên ứng cứu, tạo điều kiện để quân đội Việt Nam tổ chức đánh các binh đoàn tiếp viện.

Quyết định thay đổi phương án tác chiến thể hiện sự thận trọng trong đánh giá tình hình và yêu cầu bảo đảm chắc thắng. Tư duy ấy tiếp tục được thể hiện rõ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

vng7_1792492377.png
Bác Hồ bàn với Đại tướng Võ Nguyên Giáp về phương án tác chiến cho Chiến dịch Biên giới 1950. Ảnh: Báo Nhân dân 

Ban đầu, phương án tác chiến được xây dựng theo hướng “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Tuy nhiên, sau khi trực tiếp xem xét hệ thống phòng ngự của quân Pháp và đánh giá điều kiện thực tế của bộ đội, Đại tướng quyết định hoãn cuộc tiến công, kéo pháo ra và chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định khó khăn, đòi hỏi người chỉ huy chịu trách nhiệm trước vận mệnh chiến dịch. Ngày 7/5/1954, chiến dịch kết thúc thắng lợi, tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đại tướng tham gia chỉ đạo chiến lược trên nhiều chiến trường, từ các chiến dịch mùa khô năm 1965-1966 và 1966-1967 đến Đường 9 - Nam Lào năm 1971, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và nhiệm vụ tổ chức phòng không chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ. Chiến thắng trong 12 ngày đêm tháng 12/1972, thường được gọi là “Điện Biên Phủ trên không”, góp phần buộc Mỹ trở lại bàn đàm phán.

Mùa Xuân năm 1975, khi thời cơ giải phóng miền Nam xuất hiện, Đại tướng yêu cầu các lực lượng tranh thủ từng ngày, từng giờ để tiến công. Ngày 7/4/1975, ông soạn bức điện chỉ đạo với mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Mệnh lệnh trở thành một trong những dấu ấn tiêu biểu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

vng8_1792492377.png
Đại tướng Võ Nguyên Giáp góp phần quan trọng vào những thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta. Ảnh: Báo Nhân dân

Trong những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4/1975, ông cũng chỉ đạo các lực lượng chuẩn bị giải phóng quần đảo Trường Sa. Bức điện mật ngày 4/4/1975 yêu cầu Quân khu 5 và Hải quân sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ. Đến ngày 28/4, quân đội Việt Nam hoàn thành việc giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Hai ngày sau, ngày 30/4/1975, chiến dịch giải phóng Sài Gòn kết thúc, chiến tranh chấm dứt.

Là nhà lý luận quân sự về chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang, Đại tướng được nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ gọi bằng tên thân mật “Anh Cả” của quân đội. Ông luôn nhấn mạnh giá trị của con người trong chiến tranh, coi sinh mạng người lính là điều phải được cân nhắc trong mọi quyết định tác chiến. Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chiến thắng phải gắn với việc hạn chế tổn thất, bởi những mất mát của chiến tranh không thể dễ dàng bù đắp.

Anh Khôi
Tin đáng đọc