Ngôi làng duy nhất Việt Nam không có liệt sĩ trong cả 4 cuộc chiến tranh: Gắn liền với Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có nhiều di tích lịch sử
Được mệnh danh là "Thủ đô Khu giải phóng", "Thủ đô Kháng chiến", có hàng trăm thanh niên nhập ngũ, tham gia chiến đấu trên nhiều chiến trường ác liệt nhưng ngôi làng này không có người hy sinh.
Ngôi làng đặc biệt của Việt Nam
Suốt hàng chục năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trên khắp mảnh đất Việt Nam này, hầu như làng, xã nào cũng có những người con lên đường chiến đấu rồi hy sinh. Khắp mọi miền, những nghĩa trang liệt sĩ lặng lẽ ôm trọn các anh, các chị vào lòng đất mẹ, trở thành biểu tượng của sự tri ân và ký ức về những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Thế nhưng, giữa vô vàn vùng đất từng trải qua bom đạn, vẫn có một ngôi làng mang câu chuyện đặc biệt hiếm có. Đó là làng Tân Lập, thuộc xã Tân Trào, huyện Sơn Dương cũ (nay là thôn Tân Lập, xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang). Dù có hàng trăm thanh niên nhập ngũ, tham gia chiến đấu trên nhiều chiến trường ác liệt, ngôi làng này không có người hy sinh.
Đến nay, Tân Lập vẫn được nhiều người nhắc đến như một ngôi làng đặc biệt của Việt Nam - nơi hàng trăm người con lên đường bảo vệ Tổ quốc nhưng đều may mắn trở về. Theo nhiều tài liệu, làng Tân Lập có 104 thanh niên tham gia nhập ngũ, sau đó có 2 thương binh và 2 bệnh binh. Câu chuyện ấy không chỉ là một điều hiếm có trong lịch sử chiến tranh mà còn trở thành niềm tự hào của vùng đất cách mạng Tân Trào.
Ẩn mình giữa những dãy núi xanh, làng Tân Lập không chỉ nổi tiếng là vùng đất cách mạng mà còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày.
Theo Trang thông tin điện tử xã Sơn Dương, ngôi làng ngày xưa có tên là Kim Long. Làng nằm trong một thung lũng nhỏ, được núi rừng bao bọc, với những nếp nhà quần tụ bên dòng sông Phó Đáy uốn lượn như hình rồng cuộn mình. Từ địa thế ấy, các bậc tiền nhân đã đặt tên là Kim Long.
Đến thời vua Gia Long, để tránh phạm húy, tên làng được đọc chệch thành Kim Lung. Sau này, trong thời kỳ cách mạng, Bác Hồ đổi tên làng thành Tân Lập với ý nghĩa về một sự khởi đầu mới.
Đến nay, Tân Lập vẫn bảo tồn gần như nguyên vẹn không gian văn hóa truyền thống của người Tày. Đó là những ngôi nhà sàn bằng gỗ, lợp lá cọ dày. Tại đây, nhà thường được dựng theo số lẻ, từ 3-5 gian, có 1 cửa chính, 1 cửa phụ cùng nhiều cửa sổ. Cầu thang lên nhà thường có 9 bậc phản ánh quan niệm, tập quán lâu đời của đồng bào. Không chỉ là nơi sinh sống, mỗi ngôi nhà sàn còn là không gian lưu giữ những giá trị văn hóa, phong tục và nếp sống truyền thống được truyền qua nhiều thế hệ. Đặc biệt, làng hiện vẫn còn 34 ngôi nhà sàn cổ có tuổi đời hàng trăm năm.
Hiện Tân Lập có 183 hộ với 771 nhân khẩu, trong đó khoảng 97% là đồng bào dân tộc Tày. Bản sắc văn hóa nơi đây được thể hiện rõ nét qua trang phục, tiếng nói, tín ngưỡng, ẩm thực và các loại hình sinh hoạt dân gian. Đến với Tân Lập, du khách có thể trải nghiệm nhiều hoạt động mang đậm bản sắc địa phương như chế biến chè, làm cơm lam, xôi ngũ sắc, bánh trứng kiến, nộm rau dớn; ngâm chân bằng các loại thảo dược, chèo mảng trên hồ Nà Nưa, thưởng thức làn điệu hát then, tiếng đàn tính hay tham gia các trò chơi dân gian truyền thống của người Tày.
Mảnh đất giàu giá trị lịch sử
Nhắc đến Tân Lập, nhiều người sẽ nhớ ngay đến những địa danh đã đi vào lịch sử như Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái hay cây đa Tân Trào. Không chỉ lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Tày, vùng đất này còn được xem là "địa chỉ đỏ", gắn liền với Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Khi đó, Tân Lập được lựa chọn làm trung tâm của Thủ đô lâm thời Khu Giải phóng, trở thành đầu mối kết nối giữa các căn cứ cách mạng ở Việt Bắc, Tây Bắc với khu vực đồng bằng Bắc Bộ.
Trong quần thể di tích lịch sử của Tân Trào, Đình Tân Trào là công trình mang giá trị đặc biệt. Đây là nơi diễn ra Đại hội Đại biểu Quốc dân trong hai ngày 16 và 17/8/1945 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh. Đại hội đã thông qua chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa, thống nhất 10 chính sách lớn của Việt Minh, thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đồng thời quyết định chọn lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ và bài "Tiến quân ca" làm Quốc ca của nước Việt Nam.
Chiều 16/8/1945, dưới tán cây đa Tân Trào, Đội Quân Giải phóng Việt Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã làm lễ xuất quân tiến về giải phóng Thái Nguyên, mở đầu cuộc hành quân hướng về Hà Nội, góp phần tạo nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.
Không chỉ có giá trị lịch sử, Đình Tân Trào còn là công trình mang đậm nét kiến trúc truyền thống của đồng bào miền núi. Đình được dựng theo kiểu nhà sàn, mái lợp lá cọ, quay mặt về hướng Nam - hướng được quan niệm tượng trưng cho sự tốt lành và thịnh vượng. Phía trước là núi Ao Rừm, dưới chân là dòng suối Khuôn Pén (Ngòi Thia), tạo nên không gian thanh bình, hài hòa với thiên nhiên. Từ khi được xây dựng, đình vừa là nơi thực hành tín ngưỡng, vừa là địa điểm hội họp, tổ chức lễ hội và sinh hoạt cộng đồng của người dân trong làng.
Đến nay, trải qua nhiều thập kỷ, Đình Tân Trào vẫn là điểm tựa tinh thần của người dân Tân Lập. Bên cạnh giá trị của một di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, nơi đây còn là không gian linh thiêng gắn bó với đời sống văn hóa của cộng đồng.
Trước những dấu mốc quan trọng như cưới hỏi, dựng nhà, đi làm ăn xa hay các việc hệ trọng của gia đình, người dân vẫn giữ nét đẹp truyền thống là đến đình dâng hương, bày tỏ lòng thành và cầu mong bình an. Chính sự gìn giữ ấy đã giúp Đình Tân Trào không chỉ lưu dấu những trang sử hào hùng của dân tộc mà còn tiếp tục hiện diện như một phần không thể tách rời trong đời sống của người dân địa phương.
Bên cạnh Đình Tân Trào, cây đa Tân Trào là biểu tượng gắn liền với lịch sử và đời sống của người dân Tân Lập suốt hơn 300 năm. Cây đa đứng sừng sững ở đầu làng không chỉ chứng kiến nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc mà còn trở thành dấu ấn đặc trưng của vùng đất cách mạng.
Theo người dân địa phương, trước đây nơi đây có hai cây đa cổ, được gọi là cây đa ông và cây đa bà. Sau trận bão năm 1993, cây đa ông bị quật đổ, còn cây đa bà cũng đứng trước nguy cơ chết khô. Nhờ sự chung tay của chính quyền và người dân, sau gần hai năm chăm sóc, cây đa dần hồi sinh, đâm chồi xanh tốt và tiếp tục tỏa bóng trên mảnh đất lịch sử Tân Trào như biểu tượng của sức sống bền bỉ và sự trường tồn.



