Nhà văn đầu tiên trong lịch sử được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, từ bỏ cơ hội du học để ra chiến trường, hy sinh khi mới 29 tuổi
Khi cơ quan thiếu dụng cụ lao động, ông tháo chiếc nhẫn mẹ gửi dành cho ngày cưới để bán lấy tiền mua cuốc, rựa phục vụ sản xuất.
Nhà văn Chu Cẩm Phong (1941-1971) tốt nghiệp xuất sắc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nhưng từ chối cơ hội du học để tình nguyện vào chiến trường miền Nam. Ông vừa làm báo, sáng tác văn học vừa trực tiếp chiến đấu tại Khu 5 và hy sinh ở tuổi 29.
Tháng 4/2010, ông trở thành nhà văn đầu tiên được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Trước đó, năm 2007, tác phẩm “Nhật ký chiến tranh” của ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật.
Từ sinh viên xuất sắc đến nhà báo, nhà văn chiến trường
Nhà văn Chu Cẩm Phong, tên thật là Trần Tiến, sinh ngày 12/8/1941 tại Hội An, Quảng Nam (nay thuộc TP. Đà Nẵng). Năm 1954, Chu Cẩm Phong theo cha tập kết ra Bắc, học tại trường dành cho học sinh miền Nam ở Hải Phòng. Năm 1960, ông theo học Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Trong thời gian học tập, ông tích cực tham gia hoạt động sinh viên, được bầu vào Ban Chấp hành Hội Sinh viên Việt Nam và kết nạp Đảng năm 1963, khi đang học năm thứ 3 đại học.
Cuối năm 1964, Chu Cẩm Phong tốt nghiệp loại xuất sắc và được lựa chọn đi học ở nước ngoài. Tuy nhiên, ông quyết định tình nguyện trở về miền Nam, trực tiếp tham gia kháng chiến. Theo nhà văn, Thiếu tướng Nguyễn Chí Trung, lựa chọn ấy xuất phát từ khát vọng được trải nghiệm cuộc sống gian khổ, được đóng góp trực tiếp cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của một trí thức trẻ giữa thời điểm 2 miền còn chia cắt.
Trở về chiến trường, Chu Cẩm Phong làm phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại mặt trận Quảng - Đà. Sau đó, ông công tác tại Tạp chí Văn nghệ Giải phóng Trung Trung Bộ, đảm nhiệm công việc phóng viên, biên tập viên và Bí thư Chi bộ Tiểu ban Văn nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Khu 5.
Chiến trường Khu 5 những năm ấy thiếu thốn và thường xuyên đối mặt với các cuộc càn quét, oanh tạc. Ngoài nhiệm vụ sáng tác, biên tập và tổ chức công việc cơ quan, ông cùng đồng đội tham gia lao động sản xuất, vận chuyển lương thực, thực phẩm lên căn cứ. Những chuyến đi thực tế đưa nhà văn đến các vùng chiến sự ác liệt - nơi ông trực tiếp chứng kiến cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ, du kích và người dân trong vùng địch kiểm soát.
Trong vai trò Bí thư Chi bộ, Chu Cẩm Phong quan tâm tổ chức đời sống của đơn vị. Ông phân công công việc làm rẫy, kiếm rau, dựng nhà và hướng dẫn những người mới vào chiến trường cách sản xuất lương thực. Khi cơ quan thiếu dụng cụ lao động, ông tháo chiếc nhẫn mẹ gửi dành cho ngày cưới để bán lấy tiền mua cuốc, rựa phục vụ sản xuất.
Những công việc ấy giúp ông tích lũy vốn sống từ thực tiễn và hiểu rõ hơn đời sống của đồng bào địa phương. Trong các chuyến vận chuyển gạo, muối từ đồng bằng lên căn cứ, ông thường xung phong đi đầu dù biết nguy cơ bị phục kích rất cao.
Mùa mưa năm 1970, trong một chuyến đi lấy gạo, đoàn của Chu Cẩm Phong bị địch phục kích. Ông bình tĩnh chỉ dẫn đồng đội tìm đường thoát hiểm rồi chủ động đi trước để dò đường. Theo những hồi ức về nhà văn, ông từng nói: “Tôi đi trước, có gì tôi nổ súng, các anh phía sau tìm cách chạy thoát để tránh tổn thất”.
Tinh thần trách nhiệm và sự chủ động nhận nhiệm vụ nguy hiểm cũng thể hiện trong công việc báo chí, văn học của ông. Chu Cẩm Phong thường tìm đến những địa bàn ác liệt để nắm bắt tình hình, gặp gỡ nhân vật và thu thập tư liệu trực tiếp. Nhật ký ngày 2/3/1969 ghi lại một ngày công tác căng thẳng, khi ông suýt chết 2 lần và phải đối mặt với nỗi đau trước sự hy sinh của những người trẻ tuổi. Trong một ghi chép khác vào ngày 2/8/1969, ông bày tỏ mong muốn trở lại địa bàn nơi đồng đội đang gặp nhiều khó khăn.
Với Chu Cẩm Phong, sáng tác phải bắt nguồn từ cuộc sống thực tế. Những gì mắt thấy, tai nghe trên chiến trường trở thành tư liệu cho các bài báo, bút ký và truyện ký. Tuy nhiên, ông luôn cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa sự việc vào tác phẩm, đặc biệt tại những địa bàn có nguy cơ để lộ thông tin hoạt động.
Những người từng công tác cùng nhà văn kể lại rằng ông duy trì thói quen ghi chép gần như mỗi ngày, có hôm hơn 10 trang giấy. Ngay cả lúc bị sốt rét hành hạ, ông vẫn mở sổ tay ghi lại tình trạng sức khỏe bằng một từ ngắn gọn: “Sốt!”.
Ngày 8/6/1968, khi dự định viết bài về sản xuất gửi báo Cờ Giải phóng, ông nhận ra nội dung mình triển khai đã vượt khỏi phạm vi một bài nêu gương lao động. Trong nhật ký, ông ghi lại suy nghĩ: “Chủ đề không còn nêu một gương sản xuất mà là suy nghĩ về cuộc sống, cuộc chiến đấu, về trách nhiệm của những người còn sống...”.
Từ những trải nghiệm ấy, Chu Cẩm Phong xây dựng được cách viết gắn sự kiện cụ thể với suy ngẫm về con người và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong chiến tranh. Các tác phẩm như “Vườn cây ăn quả nhà mẹ Thám”, “Gió lộng từ Cửa Đại”, “Mẹ con chị Hiền”, “Mặt biển - mặt trận”, “Rét tháng Giêng” phản ánh đời sống chiến đấu, lao động và những số phận con người trên chiến trường miền Trung.
Trong các sáng tác, những người lính, cán bộ, du kích, người mẹ và người dân vùng chiến sự hiện lên từ những hoàn cảnh đời thường. Hiện thực chiến tranh được ghi lại qua các sự kiện, chi tiết cụ thể, đồng thời thể hiện tình cảm của nhà văn đối với quê hương và những con người ông gặp trên đường công tác.
Trong số các tác phẩm Chu Cẩm Phong để lại, “Nhật ký chiến tranh” có vị trí đặc biệt. Cuốn nhật ký tập hợp những ghi chép từ ngày 11/7/1967 đến ngày 24/4/1971, phản ánh gần 4 năm hoạt động và chiến đấu của nhà văn tại chiến trường Khu 5. Những trang viết ghi lại công việc hằng ngày, các chuyến đi thực tế, tình hình chiến sự, sinh hoạt của đơn vị và những suy nghĩ riêng tư về gia đình, đồng đội, lý tưởng sống.
Người đọc có thể theo dõi những đợt oanh tạc, các cuộc hành quân, tình trạng thiếu thốn tại căn cứ và công việc của người làm báo trong hoàn cảnh chiến tranh. Xen giữa những ghi chép về chiến sự là những câu chuyện đời thường, từ việc sửa bản thảo, tổ chức sản xuất đến sinh hoạt của đồng bào tại các địa bàn công tác.
Ngày 8/1/1970, trước khi nhận nhiệm vụ trở lại Quảng Đà - nơi ông đánh giá là một trong những địa bàn ác liệt nhất, nhà văn viết về khả năng mình có thể hy sinh và nỗi đau mà gia đình sẽ phải chịu đựng. Ông vẫn khẳng định quyết tâm giữ vững phương châm sống đã lựa chọn: Dũng cảm, say sưa và quên mình vì nhiệm vụ.
Số phận của cuốn nhật ký sau ngày ông hy sinh cũng là một câu chuyện đặc biệt. Theo các tư liệu về nhà văn, cuốn sổ tay được một sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa thu giữ sau trận chiến. Sau khi đọc những ghi chép của Chu Cẩm Phong, người này quyết định giữ lại và trao cho một người bạn tên Hoàng Đình Hiếu.
Ông Hiếu trân trọng bảo quản cuốn sổ, đóng lại bìa và vẽ hình một cái cây mọc thẳng dưới ánh mặt trời. Sau ngày giải phóng Đà Nẵng, cuốn nhật ký được ông trao lại cho nhà thơ Bùi Minh Quốc - đồng đội cũ của Chu Cẩm Phong. Nhờ vậy, những ghi chép của nhà văn được lưu giữ và đưa trở lại với bạn đọc.
Năm 2000, “Nhật ký chiến tranh” được xuất bản thành sách và nhận tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2005, Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành “Tuyển tập Chu Cẩm Phong”. Đến năm 2007, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật với tác phẩm “Nhật ký chiến tranh”.
Hy sinh tại chiến trường Quảng Nam ở tuổi 29
Sáng 1/5/1971, quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa tổ chức càn quét tại khu vực thôn Vinh Cường, xã Xuyên Phú (huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cũ). Chu Cẩm Phong cùng các cán bộ, du kích địa phương đang trú ẩn trong một căn hầm bí mật giữa lùm tre, ven bờ suối.
Lực lượng địch phát hiện căn hầm, tung nắp hầm lên, ném lựu đạn và gọi những người bên trong đầu hàng. Theo các tư liệu về trận đánh, quân địch sử dụng nhiều loại vũ khí, trong đó có súng tiểu liên, lựu đạn, hơi cay và hỏa tiễn để tấn công vị trí trú ẩn.
Trong tình thế bị bao vây, Chu Cẩm Phong động viên đồng đội chuẩn bị vũ khí chống trả. Ông nhắc mọi người rằng đơn vị có súng AK, súng ngắn và lựu đạn, đồng thời yêu cầu đưa súng về phía miệng hầm để chiến đấu.
Trước khi bước vào trận chiến cuối cùng, nhà văn còn lấy tài liệu trong xắc cốt ra xé và chôn xuống đất. Sau đó, ông cùng đồng đội tiếp tục chống trả lực lượng địch. Cuộc chiến đấu diễn ra không cân sức và kết thúc bằng sự hy sinh của Chu Cẩm Phong cùng những người chiến đấu bên cạnh ông. Nhà văn ngã xuống khi mới 29 tuổi, chỉ 1 tuần sau những ghi chép cuối cùng trong cuốn nhật ký của mình.
Tháng 4/2010, Chu Cẩm Phong được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông được ghi nhận là nhà văn đầu tiên được truy tặng danh hiệu cao quý này. Trước đó, năm 2005, TP. Đà Nẵng đã đặt tên ông cho một tuyến đường.
Cuộc đời Chu Cẩm Phong kết thúc trên chiến trường Quảng Nam nhưng những ghi chép ông để lại tiếp tục góp phần giúp các thế hệ sau tìm hiểu hiện thực chiến tranh, đời sống của người dân vùng địch hậu và sự lựa chọn của những trí thức trẻ trong thời kỳ đất nước còn chia cắt.





