Nhà văn quê Thái Bình được phong hàm Thiếu tướng: Là thương binh, từng chiến đấu tại Điện Biên Phủ, có tác phẩm được xuất bản ở Liên Xô

Đời sống • 16/10/2026 11:24

Với những cống hiến cho quân đội và sự nghiệp cách mạng, ông được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.

Trong thế hệ những nhà văn trưởng thành từ cuộc chiến tranh cách mạng, Dũng Hà là một gương mặt để lại dấu ấn đặc biệt. Ông không chỉ là người cầm bút mà trước hết là một người lính đã trực tiếp đi qua những chiến trường khốc liệt nhất của lịch sử dân tộc. 

Từ Điện Biên Phủ đến chiến trường miền Trung, từ người cán bộ chính trị, người chỉ huy đến Tổng Biên tập Văn nghệ Quân đội, cuộc đời ông gắn bó mật thiết với quân đội và nhân dân. Chính vốn sống phong phú ấy đã trở thành nền tảng cho một sự nghiệp văn chương bền bỉ, trong đó chiến tranh được nhìn từ chiều sâu của số phận và phẩm giá con người.

Nhà văn, Thiếu tướng Dũng Hà tên thật là Phạm Điệng (bút danh Thái Linh), sinh năm 1929, quê ở xã Hồng Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cũ (nay thuộc xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên). Năm 17 tuổi, ông gia nhập quân đội.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông chiến đấu tại chiến trường Đông - Bắc (Đệ tứ chiến khu), từng là chiến sĩ, cán bộ phân đội dưới sự chỉ huy của tướng Nguyễn Bình và Trung đoàn trưởng Vũ Mạnh Hùng. Năm 1954, ông tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ với cương vị Chính trị viên Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316, trực tiếp chỉ huy chiến đấu tại đồi A1 trong trận đánh đêm 6/5/1954 và bị thương ở tay. 

Đơn vị của ông sau đó tham gia áp giải tù binh Pháp về Thanh Hóa. Cũng chính từ những trải nghiệm ở chiến trường Điện Biên Phủ trở thành nguồn chất liệu quan trọng trong sáng tác của ông, tiêu biểu là truyện ngắn Cây số 42, sau này được chuyển thể thành phim.

Thiếu tướng, nhà văn Dũng Hà: Cuộc đời đi vào văn chương
Chân dung nhà văn Dũng Hà. Ảnh: QĐND

Sau kháng chiến chống Pháp, dù là thương binh, Dũng Hà vẫn tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách trong quân đội. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông được điều động sang lực lượng Hải quân. Năm 1967, khi Binh chủng Đặc công được thành lập, ông phụ trách công tác chính trị, sau đó giữ chức Chính ủy Binh chủng, trực tiếp tham gia lãnh đạo lực lượng đặc công chiến đấu tại chiến trường miền Trung.

Chính những năm tháng ấy đã cung cấp cho ông nguồn chất liệu đặc biệt để viết Sao Mai, xuất bản năm 1974. Tác phẩm tái hiện cuộc chiến đấu của những người lính đặc công, nhưng giá trị của nó không chỉ nằm ở việc dựng lại những trận đánh hiểm nguy. Nhà văn Dũng Hà đưa người đọc đến gần hơn với thế giới nội tâm của người lính, nơi giữa sự sống và cái chết luôn hiện hữu khát vọng được sống, được yêu thương và trở về.

Sao Mai vì thế mang một sắc thái nhân văn nổi bật. Người lính trong tác phẩm vừa là chiến sĩ dũng cảm, vừa là một con người với tình yêu, nỗi nhớ và những mong ước đời thường. Càng đối diện với hy sinh, họ càng nhận thức sâu sắc giá trị của sự sống và hòa bình. Tác phẩm được tái bản nhiều lần tại Việt Nam vào các năm 1974, 1980, 1987 và được dịch sang tiếng Nga, xuất bản tại Liên Xô năm 1986.

Sau năm 1975, nhà văn Dũng Hà làm Trưởng ban Ký sự Lịch sử quân sự thuộc Tổng cục Chính trị. Năm 1982, ông được giao trọng trách Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Với vốn sống của một người lính từng trải và kinh nghiệm của một cán bộ chính trị, ông hiểu sâu sắc mối quan hệ giữa hiện thực chiến trường và văn chương. Những hồi ức của các nhà văn từng làm việc cùng cho thấy ông là người thẳng thắn, bộc trực, gần gũi, giàu tình cảm và đặc biệt quan tâm đến các cây bút trẻ. 

Năm 1990, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và nghỉ hưu năm 1993. Tuy rời các cương vị công tác, ông vẫn tiếp tục gắn bó với văn chương và với những ký ức của một đời binh nghiệp.

Nhìn lại toàn bộ sáng tác của Dũng Hà, có thể nhận thấy một hành trình vận động rõ nét: Từ sự kiện lịch sử đến số phận con người, từ chiến trường đến hậu chiến, từ ký ức cộng đồng đến những suy tư riêng tư. Bên cạnh Sao Mai, ông có các tác phẩm như Gió bấc (1963), Mảnh đất yêu thương (1978), Quãng đời xưa in bóng (1980), Đường dài (1987), Cây số 42 (1995), Phận gái (2002) và Sông cạn (2006).

Trong những sáng tác ấy, chiến tranh hiện diện nhưng không bao giờ lấn át con người. Những người lính của Dũng Hà thường mang trong mình nhiều suy tư, ký ức và cả những tổn thương. Quá khứ chiến tranh, qua ngòi bút của ông, không đơn thuần là sự hồi tưởng mà trở thành một cách nhận thức về giá trị của sự sống. Càng chứng kiến nhiều mất mát, con người càng hiểu cái giá của hòa bình, càng đi qua gian khổ, họ càng trân trọng tình yêu, tình đồng đội và hạnh phúc đời thường.

Hình ảnh nhà văn, Thiếu tướng Dũng Hà trong chuyến trở lại chiến trường Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu

Nhà văn Dũng Hà qua đời năm 2011, hưởng thọ 82 tuổi. Cả cuộc đời ông gắn bó sâu nặng với quân đội, văn chương và những biến động lớn của đất nước.

Với những cống hiến cho quân đội và sự nghiệp cách mạng, nhà văn Dũng Hà được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Quân kỳ Quyết thắng cùng nhiều huân chương, huy chương khác. Năm 2012, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật.

Dòng đời Dũng Hà đã khép lại, nhưng dòng văn chương ông để lại vẫn tiếp tục chảy. Đó là dòng chảy của ký ức một thời đạn bom, của tình đồng đội, lòng yêu nước và trên hết là niềm tin vào phẩm giá, tình thương và khát vọng hạnh phúc của con người.

Bài viết sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:

- Thiếu tướng, nhà văn Dũng Hà: Người lính từ chiến trường Điện Biên Phủ - Báo Công an Nhân dân

- Thiếu tướng, nhà văn Dũng Hà: Cuộc đời đi vào văn chương - Báo Quân đội Nhân dân

- Nhà văn DŨNG HÀ (1929-2011) - Bảo tàng Văn học Việt Nam

Bảo Lam
Tin đáng đọc