Dòng họ nổi tiếng Việt Nam có 9 người làm vua, một vị sẽ được UNESCO vinh danh Danh nhân lịch sử, văn hóa thế giới
Nhà Lý là một trong những triều đại hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Triều đại thịnh vượng của lịch sử phong kiến Việt Nam
Cuối triều Tiền Lê, đất nước rối ren, vua Lê Long Đĩnh bỏ bê triều chính. Trước tình hình này, năm 1009, các quan suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi, mở ra vương triều Lý tại kinh đô Hoa Lư.
Nhà Lý tồn tại hơn 200 năm (1009 - 1225), trải qua 9 đời vua và đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của quốc gia Đại Việt cũng như văn hóa Thăng Long gồm vua Lý Thái Tổ - tên húy là Lý Công Uẩn; vua Lý Thái Tông - con trưởng của vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thái hậu; vua Lý Thánh Tông; vua Lý Nhân Tông - con trưởng của vua Lý Thánh Tông và bà Linh Nhân Thái hậu (tức bà Ỷ Lan); vua Lý Thần Tông - con trưởng của em ruột vua Nhân Tông là Sùng Hiền Hầu, được vua Nhân Tông nhận làm con nuôi và truyền ngôi cho; Lý Anh Tông - con trưởng của vua Lý Thần Tông và bà Lê Thái hậu; Lý Cao Tông - con thứ 6 của vua Anh Tông, mẹ là Thụy Châu Thái hậu; Lý Huệ Tông - con trưởng của vua Cao Tông, mẹ là Đàm Thái hậu; Lý Chiêu Hoàng là con thứ hai của vua Huệ Tông, mẹ là Thuận Trinh Thái hậu Trần Thị Dung.
Là người khai sinh ra vương triều Lý, vua Lý Thái Tổ hiện đang được hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO xem xét vinh danh là Danh nhân lịch sử, văn hóa thế giới nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm ngày mất của ông (1028 - 2028).
Trong suốt thời gian trị vì, vua Lý Thái Tổ đã đặt nền móng vững chắc cho quốc gia Đại Việt bằng tư duy trị quốc tiến bộ, nhân văn, lấy dân làm gốc. Sau khi lên ngôi, ông thực hiện nhiều chính sách tích cực như giảm thuế, khoan thư sức dân, ổn định xã hội và chú trọng nâng cao đời sống nhân dân, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Dưới thời Lý, đất nước cũng có nhiều thành tựu lớn về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Một trong những dấu ấn lớn nhất chính là việc vua Lý Thái Tổ ban Chiếu dời dô vào năm 1010, quyết định chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên là Thăng Long. Điều này không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược mà còn mở đầu cho quá trình xây dựng Thăng Long thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của Đại Việt.
Về quân sự, triều Lý nổi bật với cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 1075 - 1077. Dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, quân dân Đại Việt đã lập phòng tuyến trên sông Như Nguyệt, đánh bại quân xâm lược và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Về kinh tế, nhà Lý chú trọng phát triển nông nghiệp, đặc biệt quan tâm đến việc đắp đê, trị thủy để bảo vệ sản xuất. Nhiều công trình đê điều lớn được xây dựng ở vùng đồng bằng sông Hồng.
Về văn hóa - giáo dục, sau khi dời đô, Thăng Long trở thành trung tâm lớn của Đại Việt. Nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu (1070), mở khoa thi đầu tiên (1075) và thành lập Quốc Tử Giám (1076) - trường đại học đầu tiên của nước ta.
Dưới triều đại nhà Lý, Phật giáo cũng rất phát triển, để lại nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng như chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, chùa Phật Tích…
Đền Đô - Nơi thờ 8 vị vua của triều Lý
Tưởng nhớ công lao của các vị vua triều Lý, hiện nay nhân dân thờ phụng 8 vị vua của triều đại này tại đền Đô. Đền Đô còn gọi là đền Lý Bát Đế hay Cổ Pháp điện, tọa lạc tại vùng đất Cổ Pháp xưa, nay thuộc Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đây được xem là quê hương phát tích của vương triều Lý.
Theo sử sách ghi lại, đền được vua Lý Thái Tông cho khởi công xây dựng vào năm 1030 khi về quê làm giỗ cha. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, công trình đã được tu sửa và mở rộng nhiều lần, trong đó đợt trùng tu lớn nhất diễn ra vào năm 1620 dưới thời vua Lê Kính Tông.
Đền có kiến trúc hài hòa, đậm phong cách cung đình kết hợp dân gian, được chạm khắc tinh xảo. Đền Đô nằm trong khuôn viên rộng hơn 31.000m2. Cổng vào nội thành gọi là Ngũ Long Môn, chạm khắc hình rồng tinh xảo, khi mở tạo cảm giác như rồng bay lên, thể hiện khí thế uy nghiêm của vương triều Lý.
Hai bên cổng chính là hai mảng nội dung mang giá trị lịch sử: một bên khắc Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ với 214 chữ, bên còn lại là bài thơ nổi tiếng “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, thể hiện tư tưởng độc lập dân tộc.
Trung tâm khu nội thành là chính điện gồm phương đình 8 mái 3 gian và hậu cung rộng lớn, nơi đặt ngai thờ và tượng thờ tám vị vua nhà Lý.
Khu ngoại thất gồm nhiều công trình như nhà chủ tế, nhà khách, nhà kho và đền vua Bà (thờ Lý Chiêu Hoàng). Hai bên tả hữu là nhà thờ quan văn và quan võ, thờ những nhân vật tiêu biểu như Tô Hiến Thành, Lý Đạo Thành, Lý Thường Kiệt, Lê Phụng Hiểu và Đào Cam Mộc.
Ngoài ra, khu di tích còn có nhà bia Cổ Pháp điện tạo bi với bia đá khắc năm 1605, chạm trổ tinh xảo, cùng nhà Thủy đình nằm giữa hồ bán nguyệt, tạo nên cảnh quan hài hòa, giàu tính nghệ thuật.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ngôi đền từng bị bom đạn phá hủy gần như hoàn toàn vào năm 1952. Đến năm 1989, dựa trên những tư liệu lưu trữ và dấu tích còn sót lại, đền Đô được phục dựng theo kiến trúc truyền thống ban đầu.
Năm 1991, ngôi đền được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa. Đến năm 2014, nơi đây cùng với các khu lăng mộ của các vua nhà Lý được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.
Hằng năm, lễ hội Đền Đô được tổ chức vào các ngày 14, 15 và 16 tháng 3 Âm lịch nhằm tưởng niệm ngày vua Lý Công Uẩn đăng quang năm 1009. Lễ hội không chỉ thể hiện lòng biết ơn đối với các vị vua triều Lý mà còn góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Ngoài ra, Lý Chiêu Hoàng - nữ hoàng duy nhất của lịch sử phong kiến Việt Nam không được thờ ở đền Đô. Bà được thờ tại đền Rồng (Từ Sơn, Bắc Ninh). Ngôi đền này được xây dựng từ cuối thế kỷ XIII, nằm gần cụm di tích đền Đô.
Bài viết có tham khảo thông tin tại:
Thăng Long thời nhà Lý (1009 - 1225) - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Đền Đô, di sản văn hóa độc đáo của Bắc Ninh - Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam
Khám phá ngôi đền thờ 8 vị vua nhà Lý - Bảo tàng Lịch sử Quốc gia


