Công trình đồ sộ do người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã thiết kế, chi phí xây dựng lên đến 150.000 lượng vàng
Được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2009, công trình hiện là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Trải qua hơn 150 năm tồn tại, Dinh Độc Lập đã nhiều lần thay đổi tên gọi, công năng và diện mạo, gắn với những biến động quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Không chỉ là chứng tích của ngày 30/4/1975, công trình còn mang dấu ấn kiến trúc riêng với sự kết hợp giữa phong cách hiện đại và những giá trị văn hóa phương Đông.
Chứng tích quan trọng của lịch sử dân tộc
Lịch sử Dinh Độc Lập bắt đầu từ năm 1868, sau khi thực dân Pháp hoàn tất việc chiếm đóng 6 tỉnh Nam Kỳ. Ngày 23/2 năm đó, Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière tổ chức lễ đặt viên đá đầu tiên, khởi công xây dựng dinh thự mới tại Sài Gòn theo thiết kế của kiến trúc sư Hermite, thay thế công trình bằng gỗ được dựng năm 1863.
Dinh được xây dựng trên khuôn viên khoảng 12ha, có mặt tiền rộng 80m, phòng khách sức chứa khoảng 800 người. Phần lớn vật liệu được vận chuyển từ Pháp sang. Do ảnh hưởng của chiến tranh Pháp - Phổ năm 1870, công trình hoàn thành vào năm 1871 và được đặt tên là Dinh Norodom (theo tên Quốc vương Campuchia đương thời).
Từ năm 1871 đến năm 1887, đây là nơi ở và làm việc của Thống đốc Nam Kỳ. Sau khi Liên bang Đông Dương được thành lập, dinh trở thành nơi làm việc của các Toàn quyền Đông Dương, mang tên Dinh Toàn quyền. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp và tiếp quản công trình. Đến tháng 9/1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Pháp quay trở lại Nam Bộ và tiếp tục sử dụng dinh làm trụ sở cho đến năm 1954.
Ngày 7/9/1954, Dinh Norodom được bàn giao cho chính quyền Quốc gia Việt Nam do Ngô Đình Diệm đại diện tiếp nhận. Ngày hôm sau, công trình được đổi tên thành Dinh Độc Lập, trở thành nơi ở và làm việc của người đứng đầu chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trong giai đoạn này, dinh còn được gọi là Dinh Tổng thống hoặc Phủ Đầu rồng, đồng thời là địa điểm diễn ra nhiều hoạt động chính trị quan trọng.
Ngày 27/2/1962, 2 phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc điều khiển máy bay AD6 ném bom, khiến công trình bị hư hại nghiêm trọng. Tổng thống Ngô Đình Diệm quyết định phá bỏ dinh cũ để xây dựng công trình mới trên nền đất này. Người được giao thiết kế là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã về kiến trúc. Công trình được khởi công ngày 1/7/1962.
Trong thời gian dinh mới đang được xây dựng, Ngô Đình Diệm bị lật đổ và qua đời trong cuộc đảo chính ngày 2/11/1963. Sau hơn 4 năm thi công, Dinh Độc Lập được khánh thành ngày 31/10/1966, dưới sự chủ trì của Nguyễn Văn Thiệu - khi đó là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ tháng 10/1967 đến ngày 21/4/1975, ông Nguyễn Văn Thiệu sinh sống và làm việc tại đây.
Ngày 30/4/1975, Dinh Độc Lập trở thành địa điểm ghi dấu sự kiện kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước. Lúc 10h45, xe tăng số hiệu 843 tiến vào, húc đổ cổng phụ; tiếp đó, xe tăng số hiệu 390 húc đổ cổng chính. Đến 11h30, lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên nóc dinh. Tổng thống cuối cùng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh cùng nội các tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Năm 1976, Dinh Độc Lập được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Đến năm 2009, công trình được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.
Kiến trúc độc đáo kết hợp tinh thần hiện đại và văn hóa phương Đông
Bên cạnh giá trị lịch sử, Dinh Độc Lập còn là công trình kiến trúc tiêu biểu do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. Tổng thể công trình kết hợp phong cách hiện đại với những yếu tố văn hóa, triết lý phương Đông và kiến trúc truyền thống Việt Nam.
Một nét đặc biệt trong thiết kế là việc đưa các hình tượng chữ Hán vào bố cục kiến trúc. Mặt bằng dinh được sắp xếp theo hình chữ Cát (吉), tượng trưng cho sự tốt lành, may mắn. Tứ phương vô sự lầu trên tầng thượng mang hình chữ Khẩu (口), thể hiện quan niệm đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Khi kết hợp với cột cờ ở chính giữa, hình tượng này tạo thành chữ Trung (中), hàm ý đức trung kiên.
Hệ thống mái hiên và ban công được bố trí theo hình chữ Tam (三), gắn với quan niệm “dân chủ hữu tam”, gồm Nhân - Minh - Võ. Khi kết hợp với nét sổ dọc, hình tượng này tạo thành chữ Vương (王); thêm kỳ đài phía trên trở thành chữ Chủ (主), tượng trưng cho chủ quyền quốc gia. Trong khi đó, tổng thể mặt tiền với ban công, mái hiên và hai cột gỗ tạo thành hình chữ Hưng (興), gửi gắm mong muốn đất nước phát triển, thịnh vượng.
Bao quanh tầng 2 là hệ thống rèm hoa đá mô phỏng những đốt trúc thanh mảnh, được cách điệu từ họa tiết cửa cung điện ở Cố đô Huế. Chi tiết này vừa tạo điểm nhấn kiến trúc, vừa có tác dụng điều tiết ánh sáng tự nhiên. Nội thất bên trong sử dụng các đường nét ngang bằng, sổ thẳng, thể hiện tinh thần “chính đại quang minh”. Các hành lang, đại sảnh và phòng chức năng được bố trí cân đối, phù hợp với công năng.
Khu nhà chính có mặt bằng hình chữ T, diện tích xây dựng khoảng 4.500m², cao 26m và tổng diện tích sử dụng khoảng 20.000m². Công trình gồm 3 tầng chính, 2 gác lửng, 1 tầng nền, 1 tầng hầm và sân thượng, với gần 100 phòng chức năng như phòng khánh tiết, phòng họp Hội đồng Nội các, phòng làm việc, phòng trình quốc thư và phòng đại yến. Mỗi phòng được thiết kế, trang trí theo mục đích sử dụng riêng.
Phía trước dinh là thảm cỏ hình oval có đường kính 102m, cùng hồ nước hình bán nguyệt trồng sen và súng chạy ngang đại sảnh. Bao quanh công trình là hệ thống thảm cỏ, vườn cây cổ thụ và cây cảnh; phía sau có 4 sân quần vợt. Trong khuôn viên còn có một tòa nhà hai tầng mang phong cách kiến trúc Pháp, nằm tại góc đường Nguyễn Du và Nam Kỳ Khởi Nghĩa, được xây dựng cùng thời với Dinh Norodom.
Với kinh phí xây dựng tương đương 150.000 lượng vàng, Dinh Độc Lập từng là một trong những công trình có quy mô lớn và hiện đại bậc nhất miền Nam Việt Nam.
Từ một công trình kiến trúc, Dinh Độc Lập đã trở thành chứng tích của thời khắc lịch sử trọng đại, gắn liền với dấu mốc hòa bình và thống nhất đất nước. Nằm giữa trung tâm thành phố mang tên Bác, nơi đây là địa điểm tham quan, tìm hiểu lịch sử và kiến trúc, thu hút đông đảo người dân cùng du khách trong nước và quốc tế.





