Nhà tình báo 'tài ba và kỳ lạ nhất' Việt Nam: Xuất thân trong gia đình giàu ở Nam Bộ, bỏ quốc tịch Pháp đi theo cách mạng, được truy tặng Anh hùng LLVTND sau 30 năm hy sinh
Ông phải đảm nhận "một vai diễn không có kịch bản", đối mặt nguy cơ bị phát hiện và mất mạng bất cứ lúc nào.
Trong lịch sử Việt Nam, Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Phạm Ngọc Thảo được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là một trong những nhà tình báo đặc biệt nhất. Nếu phần lớn các điệp báo hoạt động với nhiệm vụ thu thập tin tức và chuyển về tổ chức thì ông được giao một sứ mệnh khác biệt: Thâm nhập sâu vào bộ máy chính quyền Sài Gòn, trực tiếp tham gia vào các diễn biến chính trị, khai thác mâu thuẫn nội bộ để phục vụ mục tiêu chiến lược của cách mạng.
Đặc điểm hoạt động đơn tuyến, gần như tự quyết định mọi phương thức hành động trong suốt nhiều năm đã khiến cuộc đời và sự nghiệp của ông trở thành đề tài được nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập. Nhà báo Neil Sheehan - tác giả cuốn “A Bright Shining Lie” (Sự lừa dối hào nhoáng), từng nhắc đến Phạm Ngọc Thảo như một trong những nhân vật hoạt động bí mật "tài ba và kỳ lạ nhất".
Trong cuốn “Điệp viên hoàn hảo X6”, Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn cũng cho rằng nhiệm vụ của Phạm Ngọc Thảo nguy hiểm hơn rất nhiều so với công việc tình báo chiến lược mà ông đảm trách.
Từ bỏ quốc tịch Pháp để tham gia kháng chiến
Đại tá Phạm Ngọc Thảo sinh năm 1922 tại An Giang trong một gia đình Công giáo trí thức nổi tiếng, giàu có ở Nam Bộ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Cha ông là Adrian Phạm Ngọc Thuần - một kỹ sư trắc địa, điền chủ lớn mang quốc tịch Pháp, thuộc tầng lớp đại địa chủ - tư sản - trí thức có ảnh hưởng ở Nam Bộ thời bấy giờ. Toàn bộ các con trong gia đình đều mang quốc tịch Pháp, được tiếp cận nền giáo dục phương Tây từ nhỏ và có điều kiện học tập tốt hơn so với mặt bằng xã hội đương thời.
Gia đình Phạm Ngọc Thảo có 11 người con, trong đó 6 người tham gia cách mạng bằng nhiều hình thức khác nhau. Anh trai của ông là Gaston Phạm Ngọc Thuần sau khi tốt nghiệp cử nhân Luật tại Pháp đã trở về nước, từng giữ cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, sau này là Vụ trưởng Vụ Pháp và các nước Tây Âu thuộc Bộ Ngoại giao.
Được sinh ra trong điều kiện đủ đầy, Phạm Ngọc Thảo hoàn toàn có thể lựa chọn một cuộc sống sung túc. Ông học tú tài tại Sài Gòn và dự định tiếp tục sang Pháp du học như nhiều anh chị trong gia đình. Tuy nhiên, Chiến tranh thế giới thứ hai khiến kế hoạch này dang dở. Thay vào đó, ông ra Hà Nội học kỹ sư công chính rồi trở về Nam Bộ làm việc.
Năm 1945, khi phong trào giành chính quyền diễn ra trên cả nước, Phạm Ngọc Thảo tham gia cùng giới trí thức và nhân dân đấu tranh giành chính quyền.
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ. Trước diễn biến này, ông tuyên bố từ bỏ quốc tịch Pháp và gia nhập lực lượng kháng chiến. Quyết định ấy được nhiều nhà nghiên cứu xem là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời Phạm Ngọc Thảo.
Trong những năm đầu kháng chiến, ông lần lượt đảm nhận nhiều nhiệm vụ quân sự và an ninh tại Nam Bộ. Tư chất thông minh, khả năng tổ chức cùng nền tảng kiến thức kỹ thuật giúp ông nhanh chóng được tổ chức tin tưởng giao nhiều trọng trách.
Năm 1946, Phạm Ngọc Thảo là một trong số những cán bộ Nam Bộ được lựa chọn ra miền Bắc tham gia khóa đầu tiên của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1).
Theo các tư liệu gia đình còn lưu giữ, ông học tập tại Sơn Tây trong khoảng 8 tháng. Chương trình đào tạo bao gồm kiến thức quân sự, chính trị, chiến thuật du kích, binh khí kỹ thuật, tổ chức chỉ huy cùng các nội dung về binh thư nhà Trần và binh pháp Tôn Tử. Dù thời gian đào tạo không dài, Phạm Ngọc Thảo luôn được bạn học đánh giá là người khiêm tốn, chăm chỉ và có ý thức kỷ luật cao.
Sau khi tốt nghiệp, mỗi người trở về một đơn vị khác nhau để tiếp tục tham gia kháng chiến, riêng Phạm Ngọc Thảo trở lại Nam Bộ. Ông lần lượt đảm nhận các chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410, Trung đoàn phó và Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ.
Trong thời gian chỉ huy Tiểu đoàn 410, đơn vị của ông tham gia nhiều chiến dịch lớn của Quân khu 9. Đồng thời, trên cương vị Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ, ông góp phần thống nhất các đầu mối hoạt động tình báo còn phân tán ở chiến trường phía Nam.
Bên cạnh hoạt động quân sự, Phạm Ngọc Thảo còn tham gia nghiên cứu, biên soạn các bài viết về quân sự trên bán nguyệt san “Bách Khoa”. Nhiều bài viết thể hiện tư duy phân tích chiến lược cùng kinh nghiệm thực tiễn của người trực tiếp chỉ huy chiến đấu.
Một trong những bước ngoặt quan trọng nhất trong cuộc đời Phạm Ngọc Thảo bắt đầu từ một nhiệm vụ tưởng như bình thường.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông được cấp trên giao nhiệm vụ bảo vệ một cán bộ từ Phú Yên cũ trở về chiến trường Nam Bộ. Người cán bộ vừa thoát khỏi nhà tù Côn Đảo, sức khỏe suy kiệt, phải di chuyển qua nhiều khu vực có đồn bốt của đối phương. Khi ấy, Phạm Ngọc Thảo chưa biết danh tính người mình bảo vệ, chỉ gọi là "chú".
Trên suốt hành trình kéo dài khoảng 1 tháng, nhiều đoạn đường nguy hiểm, ông phải cõng người cán bộ vượt qua các chốt kiểm soát. Mỗi khi gặp lực lượng đối phương, ông giải thích rằng người đi cùng mắc bệnh lao hoặc hen suyễn và đang được đưa đi chữa trị để tránh sự nghi ngờ. Nhiệm vụ kết thúc khi đoàn đến chiến trường Nam Bộ an toàn.
Người cán bộ mà ông bảo vệ chính là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn. Qua chuyến đi, đồng chí Lê Duẩn đánh giá cao bản lĩnh, sự linh hoạt và tinh thần trách nhiệm của Phạm Ngọc Thảo. Sau đó, ông được biểu dương trong một hội nghị dành cho trí thức cách mạng và được giới thiệu với đồng chí Mai Chí Thọ cùng đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương) - những người phụ trách công tác địch tình của Xứ ủy Nam Bộ.
Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, nhiều cán bộ, chiến sĩ tập kết ra miền Bắc theo quy định. Riêng Phạm Ngọc Thảo được yêu cầu ở lại miền Nam.
Cuối tháng 1/1955, đồng chí Lê Duẩn trực tiếp giao cho ông nhiệm vụ tìm cách thâm nhập vào hàng ngũ cấp cao của chính quyền Sài Gòn, phục vụ mục tiêu chiến lược lâu dài của cách mạng.
Người hoạt động đơn tuyến trong lòng chính quyền Sài Gòn
Sau năm 1954, chính quyền Sài Gòn tiến hành truy bắt nhiều cán bộ từng tham gia Việt Minh. Với quá trình hoạt động kháng chiến trước đó, Phạm Ngọc Thảo trở thành đối tượng dễ bị theo dõi. Để thực hiện nhiệm vụ được giao, ông phải tìm cách tạo dựng một vỏ bọc đủ tin cậy để có thể thâm nhập vào bộ máy đối phương.
Xuất thân trong một gia đình Công giáo có quan hệ thân thiết với Giám mục Ngô Đình Thục trở thành một trong những điều kiện thuận lợi cho quá trình này. Gia đình Đại tá Phạm Ngọc Thảo vốn quen biết với Giám mục Ngô Đình Thục từ trước, vì vậy ông được giới thiệu tiếp xúc với anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu.
Điều đặc biệt là ông không tìm cách che giấu quá khứ từng tham gia Việt Minh. Trái lại, ông công khai việc từng giữ nhiều chức vụ trong lực lượng kháng chiến chống Pháp. Theo nhiều tài liệu, chính sự thẳng thắn cùng phong thái điềm đạm, kiến thức quân sự và nền tảng học vấn đã giúp ông từng bước tạo dựng được lòng tin của những người đứng đầu chính quyền Sài Gòn.
Sau khi chính thức thâm nhập vào bộ máy chính quyền Sài Gòn, Đại tá Phạm Ngọc Thảo hoạt động theo hình thức đơn tuyến.
Theo lời kể của đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương) - người tổ chức nhiệm vụ tình báo cho ông trong giai đoạn đầu, Phạm Ngọc Thảo không có mạng lưới tình báo hỗ trợ thường xuyên, không phải báo cáo từng hoạt động cụ thể và cũng không nhận chỉ đạo hằng ngày như nhiều điệp báo khác.
Ông được quyền tự quyết định phương thức hành động, tự đánh giá tình hình và tùy cơ ứng biến để hoàn thành mục tiêu chiến lược. Khi thấy cần thiết, ông có thể trao đổi trực tiếp với những lãnh đạo cách mạng mà bản thân tin tưởng. Đây là phương thức hoạt động hiếm gặp trong công tác tình báo thời kỳ đó.
Sự độc lập gần như tuyệt đối đồng nghĩa với việc mọi rủi ro đều do một mình ông đối mặt. Nếu thân phận bị bại lộ, ông hầu như không có cơ hội rút lui hay nhận được sự hỗ trợ kịp thời từ tổ chức.
Tháng 11/1960, Phạm Ngọc Thảo được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Bến Tre (cũ). Trên cương vị người đứng đầu chính quyền cấp tỉnh, Phạm Ngọc Thảo có điều kiện tiếp cận hệ thống chỉ huy quân sự, kế hoạch hành quân và nhiều thông tin liên quan đến hoạt động của quân đội Sài Gòn tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, trong thời gian làm Tỉnh trưởng, ông đã chuyển về lực lượng cách mạng nhiều thông tin liên quan đến các cuộc hành quân của đối phương, góp phần giúp các đơn vị chủ động đối phó và hạn chế thiệt hại.
Bên cạnh đó, bằng quyền hạn của mình, ông nhiều lần tìm cách điều chỉnh hoặc chuyển hướng các chiến dịch quân sự quy mô lớn. Khi không thể ngăn chặn, ông cố gắng để các cuộc càn quét diễn ra ở những khu vực ít có cơ sở cách mạng hoặc dân cư sinh sống nhằm giảm tổn thất.
Một trong những hoạt động thường được nhắc đến khi nói về Phạm Ngọc Thảo là việc trả tự do cho số lượng lớn tù chính trị trong thời gian giữ chức Tỉnh trưởng. Theo nhiều tài liệu và lời kể của những nhân chứng còn sống, ông đã ký quyết định trả tự do cho hơn 2.000 tù chính trị với lý do thực hiện chính sách "thân dân" của chính quyền.
Ngoài việc trả tự do cho tù chính trị, Phạm Ngọc Thảo còn tìm cách loại bỏ hoặc vô hiệu hóa nhiều phần tử bị cho là phản bội phong trào cách mạng, góp phần giữ gìn lực lượng tại địa phương.
Khác với nhiệm vụ của nhiều điệp báo cùng thời, Phạm Ngọc Thảo không tập trung vào việc thu thập thông tin đơn thuần. Ông dành phần lớn thời gian để nghiên cứu các mâu thuẫn giữa những phe phái trong chính quyền Sài Gòn, giữa các lực lượng quân sự, tôn giáo và đảng phái chính trị. Trong thời gian làm việc tại Bến Tre cũ cũng như sau này tại Sài Gòn, ông tìm cách khai thác những bất đồng giữa các nhóm quyền lực, từ đó làm gia tăng sự chia rẽ trong nội bộ đối phương.
Hoạt động đơn tuyến khiến Phạm Ngọc Thảo phải chấp nhận sự cô lập gần như hoàn toàn. Ngay cả những người thân trong gia đình cũng không biết nhiệm vụ thực sự của ông. Từng có thời gian nhiều người trong gia đình và cả những người từng tham gia kháng chiến cho rằng ông đã phản bội cách mạng khi xuất hiện trong hàng ngũ chính quyền Sài Gòn.
Hy sinh ở tuổi 43, được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
Bước sang giai đoạn 1963-1965, tình hình chính trị miền Nam liên tục biến động. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, nhiều phe phái trong quân đội và chính quyền Sài Gòn cạnh tranh quyền lực dẫn đến hàng loạt cuộc đảo chính và phản đảo chính.
Trong bối cảnh đó, Phạm Ngọc Thảo xuất hiện trong nhiều sự kiện chính trị lớn. Ông khai thác mâu thuẫn giữa các phe phái trong quân đội và chính quyền, góp phần tạo ra tình trạng bất ổn kéo dài.
Ngày 19/2/1965, ông trực tiếp tổ chức cuộc binh biến nhằm bắt giữ tướng Nguyễn Khánh. Lực lượng tham gia đã chiếm giữ nhiều mục tiêu quan trọng như Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, Đài phát thanh Sài Gòn, Bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất.
Tuy nhiên, người này đã rời khỏi Sài Gòn trước khi lực lượng đảo chính tiếp cận. Đến khoảng 20h cùng ngày, Phạm Ngọc Thảo tuyên bố chấm dứt cuộc binh biến.
Dù không bắt được tướng Nguyễn Khánh nhưng ông Phạm Ngọc Thảo đã làm lung lay chính quyền Sài Gòn.
Sau cuộc đảo chính ngày 19/2/1965 không thành công, Đại tá Phạm Ngọc Thảo trở thành mục tiêu truy bắt hàng đầu của chính quyền Sài Gòn. Theo nhiều tư liệu, tổ chức từng đề nghị đưa ông rút về căn cứ để bảo toàn lực lượng. Tuy nhiên, ông từ chối, cho rằng bản thân vẫn còn khả năng tiếp tục hoạt động và tìm kiếm cơ hội tạo thêm những biến động chính trị nhằm làm suy yếu bộ máy đối phương.
Một lá thư ông gửi người cậu bên nội ngày 14/4/1965 có nội dung ngắn gọn nhưng thể hiện rõ quyết tâm: "Thất bại là mẹ thành công, nhất định sẽ đi đến cùng". Thời điểm đó, ông gần như mất toàn bộ lực lượng, điều kiện hoạt động ngày càng khó khăn song vẫn tiếp tục chuẩn bị cho một kế hoạch binh biến mới.
Trong tài liệu đề ngày 4/6/1965 do William Colby - Phó Giám đốc phụ trách kế hoạch của CIA tại Sài Gòn soạn thảo, cơ quan này đánh giá việc Phạm Ngọc Thảo vẫn tự do hoạt động tại Sài Gòn là vấn đề nghiêm trọng.
Theo tài liệu, phía Mỹ cho rằng việc chính quyền Phan Huy Quát chưa xử lý dứt điểm Phạm Ngọc Thảo xuất phát từ lo ngại ảnh hưởng chính trị bởi ông có vị trí nhất định trong cộng đồng Công giáo. Đáng chú ý, CIA nhận định rất khó tác động đến ông bằng tiền bạc, hình phạt hay thậm chí án tử hình vì ông tin tưởng tuyệt đối vào sứ mệnh của mình.
Sau khi Nguyễn Văn Thiệu nắm quyền lãnh đạo Ủy ban Lãnh đạo quốc gia, chiến dịch truy bắt Đại tá Phạm Ngọc Thảo được đẩy mạnh. Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ truy bắt, kết án tử hình ông vì tội đảo chính và treo thưởng 3 triệu đồng cho ai tìm được tung tích.
Rạng sáng 16/7/1965, Đại tá Phạm Ngọc Thảo bị bắt tại khu vực Đan viện Phước Lý, sau đó bị đưa về Tam Hiệp (Biên Hòa).
Trong quá trình bị giam giữ, ông phải chịu nhiều hình thức tra tấn nhằm buộc khai báo về các mối liên hệ cũng như những người tham gia hoạt động. Tuy nhiên, ông không tiết lộ bất kỳ thông tin nào. Đại tá Phạm Ngọc Thảo hy sinh rạng sáng 17/7/1965 khi mới 43 tuổi.
Đến thời điểm đó, ngay cả nhiều người trong lực lượng cách mạng cũng chưa biết đầy đủ nhiệm vụ thật sự của ông. Đối với chính quyền Sài Gòn, ông bị coi là người đứng sau nhiều cuộc binh biến. Trong khi đó, thân phận nhà tình báo chiến lược vẫn được giữ kín tuyệt đối.
Sau khi qua đời, thi hài ông được chôn tại Nghĩa trang Quân đội Sài Gòn với tấm bia chỉ ghi dòng chữ "vô danh DB" (vô danh đặc biệt). Sau năm 1975, khi gia đình cải táng, việc nhận diện được thực hiện thông qua đặc điểm phần xương hàm và dấu vết riêng trên răng.
Đằng sau hình ảnh một nhà tình báo hoạt động giữa lòng đối phương, Đại tá Phạm Ngọc Thảo còn được người thân nhớ đến là người sống tình cảm, trách nhiệm với gia đình. Những lá thư ông gửi cho vợ là bà Phạm Thị Nhiệm trong giai đoạn 1949-1953 cho thấy một góc đời rất khác của người chiến sĩ tình báo.
Khi vợ sinh con giữa điều kiện kháng chiến gian khó, ông luôn động viên, chia sẻ và bày tỏ niềm hạnh phúc khi lần đầu được làm cha. Trong thư, ông nhờ người mua nôi, màn, chiếu cho con, đồng thời khẳng định sẽ nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ để sớm trở về với gia đình.
Sau ngày đất nước thống nhất, các tài liệu về hoạt động của Đại tá Phạm Ngọc Thảo dần được giải mật.
Năm 1982, bộ phim “Ván bài lật ngửa” bắt đầu công chiếu. Nhân vật Nguyễn Thành Luân do nhà văn Trần Bạch Đằng xây dựng được lấy cảm hứng từ nguyên mẫu Phạm Ngọc Thảo. Vai diễn của nghệ sĩ Chánh Tín góp phần đưa hình ảnh người chiến sĩ tình báo đến gần hơn với công chúng.
Ngày 30/8/1995, liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ đó, thân phận thật của người chiến sĩ tình báo hoạt động đơn tuyến mới được công bố rộng rãi. Ảnh chân dung trên bia mộ được lấy từ một bức ảnh đăng trên báo chí Sài Gòn, chụp khi ông vẫn còn mặc quân phục chế độ cũ.
Năm 2025, Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp Tổng cục II (Bộ Quốc phòng) thực hiện bộ phim tài liệu “Giữa vòng vây quân thù”, lần đầu tái hiện tương đối đầy đủ cuộc đời và sự nghiệp của Đại tá Phạm Ngọc Thảo thông qua tư liệu lưu trữ, lời kể của người thân, đồng đội cùng nhiều nhân chứng lịch sử.
Cùng năm, Tổng cục II và tỉnh Vĩnh Long khánh thành Nhà tưởng niệm Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo tại Khu di tích nơi ở và hoạt động của ông. Công trình được xây dựng nhằm tôn vinh những đóng góp của ông đối với ngành Tình báo Quốc phòng Việt Nam, đồng thời trở thành địa chỉ giáo dục truyền thống cho các thế hệ sau.
* Bài viết có sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Chuyện ít biết về Đại tá tình báo Anh hùng Phạm Ngọc Thảo - Báo Cựu Chiến Binh Việt Nam
- Đại tá Phạm Ngọc Thảo - Nhà tình báo hành động huyền thoại của Việt Nam - Báo QĐND
- Nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo: Thầm lặng chiến đấu, anh dũng hy sinh - Báo Tin tức/TTXVN
- Phim tài liệu Giữa vòng vây quân thù: Khắc hoạ chân dung nhà tình báo huyền thoại Phạm Ngọc Thảo - VTV
- Giải mật tài liệu của CIA về Phạm Ngọc Thảo - Bảo tàng Lịch sử quốc gia


