Đám cưới xa hoa, hoành tráng nhất miền Bắc đầu thế kỷ XX: Rước dâu từ Hà Nội bằng máy bay, người dân đến ăn cỗ miễn phí còn được tặng tiền mang về
Riêng lễ ăn hỏi hơn 20 mươi tráp, chưa kể tiền mặt đưa cho nhà gái và vàng bạc phải hàng dài người bê đỡ.
Trong lịch sử giới doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX, Bạch Thái Bưởi được xem là một trong những biểu tượng giàu có và có tầm ảnh hưởng lớn. Từ xuất thân nghèo khó, ông vươn lên xây dựng đế chế vận tải thủy hùng mạnh, sở hữu hàng chục con tàu cùng mạng lưới kinh doanh trải rộng khắp khu vực. Nền tảng tài chính vững mạnh này cũng là cơ sở để ông tổ chức một đám cưới quy mô lớn cho con trai vào năm 1922, gây chú ý rộng rãi trong xã hội đương thời.
Đại gia Việt duy nhất được mệnh danh là “vua tàu thủy miền Bắc”
“Nhất Sĩ, Nhì Phương, Tam Xương, Tứ Bưởi” là câu nói truyền miệng để chỉ 4 người giàu có bậc nhất đất Việt đầu thế kỷ XX. Trong đó, Bạch Thái Bưởi là trường hợp đặc biệt khi xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo tại làng An Phúc (Thanh Trì, Hà Đông cũ, nay thuộc Hà Nội).
Ông sớm trải qua biến cố gia đình khi cha mất sớm, mẹ mưu sinh bằng nghề bán hàng rong. Việc học dang dở, ông phải lao động từ nhỏ để phụ giúp gia đình. Bước ngoặt đến khi ông được nhận vào làm việc trong môi trường kinh doanh của người Pháp tại phố Tràng Tiền, từ đó tích lũy kinh nghiệm về thương mại, tổ chức sản xuất và quản lý.
Từ năm 1894, khi làm việc tại một xưởng thuộc hãng thầu công chính, ông có cơ hội tiếp cận máy móc và phương thức tổ chức sản xuất. Năm 1895, ông được lựa chọn tham gia giới thiệu sản phẩm Việt Nam tại Hội chợ Bordeaux (Pháp). Trở về nước, cơ hội lớn đầu tiên đến khi chính quyền thuộc địa xây dựng tuyến đường sắt xuyên Đông Dương và cầu Doumer bắc qua sông Hồng (nay là cầu Long Biên). Nhận thấy nhu cầu lớn về vật liệu gỗ cho đường sắt, Bạch Thái Bưởi liên doanh với một người Pháp để cung cấp tà vẹt gỗ cho Sở Hỏa xa Đông Dương.
Trong suốt 3 năm, ông lặn lội khắp các vùng rừng núi để tìm nguồn gỗ đạt tiêu chuẩn. Khi cầu Doumer hoàn thành năm 1902, hợp đồng này đã giúp ông tích lũy được nguồn vốn lớn. Sau đó, ông tiếp tục mở rộng hoạt động sang nhiều lĩnh vực như mở hiệu cầm đồ ở Nam Định, thầu thuế chợ tại Nam Định, Thanh Hóa và Vinh. Tuy nhiên việc kinh doanh này gặp thua lỗ. Không dừng lại, ông sử dụng số vốn còn lại để đấu thầu một hiệu cầm đồ của người Hoa tại Nam Định và giành được quyền kinh doanh.
Bước ngoặt lớn diễn ra từ năm 1909 khi ông chuyển sang lĩnh vực vận tải đường sông. Khởi đầu bằng việc thuê lại 3 chiếc tàu của hãng Pháp, ông từng bước mở rộng, mua lại tàu của các doanh nghiệp phá sản và xây dựng đội tàu riêng.
Đến năm 1916, ông thành lập công ty hàng hải. Cuối thập niên 1920, doanh nghiệp này đã sở hữu hơn 40 tàu và sà lan, với khoảng 2.500 lao động, hoạt động trên nhiều tuyến trong nước và quốc tế, vươn tới Hong Kong, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore và Philippines. Song song với vận tải, ông đầu tư vào khai thác than và bất động sản tại Đồ Sơn (Hải Phòng). Chính vì vậy, ông được mệnh danh là “Vua tàu thủy miền Bắc”.
Đám cưới đình đám khắp Đông Dương của con trai tỷ phú đất Bắc
Trong số nhiều người con của Bạch Thái Bưởi, 2 cái tên được ông dành sự quan tâm lớn là Bạch Thái Toàn và Bạch Thái Tòng. Khi Bạch Thái Toàn sang Pháp học tập, kết hôn với người phương Tây và định cư ở nước ngoài, vai trò kề cận trong gia đình và công việc dần tập trung vào Bạch Thái Tòng. Người con trai này được giao tham gia điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh và trở thành người kế thừa khối tài sản của gia đình.
Việc chuẩn bị hôn sự cho Bạch Thái Tòng vì thế được tổ chức với mức độ đầu tư lớn. Đám cưới không chỉ thu hút sự chú ý của báo chí Đông Dương mà còn được các hãng thông tấn Pháp nhắc tới như một sự kiện tiêu biểu trong giới thượng lưu bản xứ thời bấy giờ. Chính Bạch Thái Bưởi là người trực tiếp lựa chọn con dâu.
Cô dâu là Nguyễn Thị Tám - con gái quan huyện Nghi (cụ Cửu Nghi) tại phủ Thường Tín, Hà Đông cũ, nay thuộc khu vực Thanh Trì, Hà Nội. Gia đình bà Tám có vị thế xã hội và nền tảng kinh tế vững chắc, với hoạt động buôn bán vải vóc quy mô lớn từ Bắc vào Nam.
Bà Nguyễn Thị Tám là người con gái có vẻ đẹp đài các, được ví là "chim sa cá lặn" với làn da trắng sứ, dáng người mảnh dẻ, cao sang, mái tóc suôn mềm đen nhánh. Tính tình lại vô cùng đoan trang, hiền thục. Bà giỏi thêu thùa, đan lát và nấu ăn. Ở bà hội tụ đầy đủ các yếu tố "công, dung, ngôn, hạnh" của người phụ nữ đương thời. Từ nhỏ bà Tám được quan huyện Nghi rất yêu chiều, mời cả thầy đồ về dạy chữ quốc ngữ và tiếng Pháp. Bà Tám vốn nổi tiếng là thông minh, nên học hành rất giỏi giang.
Nhiều gia đình giàu có từng tìm cách kết thông gia nhưng đều không đạt được thỏa thuận. Chỉ đến khi phía gia đình họ Bạch chủ động dạm hỏi, quan huyện Nghi mới đồng ý. Cuộc hôn nhân giữa hai gia đình được nhìn nhận là sự tương xứng về địa vị và tiềm lực.
Hôn lễ của Bạch Thái Tòng và Nguyễn Thị Tám chính thức diễn ra ngày 11 tháng Giêng năm 1922, kéo dài trong 3 ngày với lượng khách tham dự đông đảo. Khi ấy, Bạch Thái Bưởi đã có một quyết định táo bạo, dùng máy bay riêng rước dâu từ Hà Nội về Hải Phòng. Trên đường đi, máy bay bay chậm và rải các tấm thiệp mời, người dân ai bắt được tấm thiệp này thì được đến dự đám cưới và ăn cỗ miễn phí, thậm chí còn được Bạch Thái Bưởi cho tiền mang về.
Máy bay đón dâu về đến Hải Phòng, xe ô tô diễu quanh phố phường, trống rong cờ mở rất hoành tráng. Được biết, Bạch Thái Bưởi là người đầu tiên có xe hơi ở miền Bắc. Trong ngày cưới, cô dâu mặc áo dài bằng gấm đỏ, đầu đội mấn, chân mang hài. Cả bộ trang phục được dùng sợi chỉ bằng vàng thêu hình rồng phượng rất tinh xảo.
Sính lễ trong đám cưới của ông Tòng bà Tám nhiều vô kể. Lễ ăn hỏi có hơn 20 tráp, chưa kể lễ “đen” (tiền mặt đưa cho nhà gái) và vàng bạc, phải huy động nhiều người bê thành hàng dài.
Một số người cao tuổi ở Hải Phòng vẫn thường đùa rằng, có lẽ xuất phát từ giai thoại này mà hiện nay một lễ ăn hỏi của người Hải Phòng thường rất lớn. Trung bình từ 9 tráp cho đến 21 tráp tùy theo mức độ kinh tế của mỗi gia đình.


