Đưa công nghệ AI, blockchain và IoT vào chuỗi cung ứng thực phẩm: Giải pháp minh bạch hóa từ trang trại đến bàn ăn

Sống khỏe 28/05/2026 10:00

Chuyển đổi số đang mở ra hướng tiếp cận mới trong quản trị rủi ro an toàn thực phẩm, giúp chuyển từ quản lý bị động sang phòng ngừa chủ động, dựa trên dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và cảnh báo sớm. Đây cũng là xu hướng chiến lược được đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật An toàn thực phẩm và xây dựng hệ thống dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia liên thông. Tại hội thảo chuyên khoa vừa diễn ra, các nhà quản lý và chuyên gia đầu ngành đã cùng thảo luận, định hình một hệ sinh thái công nghệ toàn diện nhằm minh bạch hóa toàn bộ hành trình sản xuất, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

llong-2_1779935793.jpg
Chuyên gia trình bày tại hội thảo.

Bước chuyển chiến lược từ quản lý bị động sang phòng ngừa chủ động dựa trên dữ liệu

Ngày 27/5, tại Viện Kiểm nghiệm An toàn thực phẩm Quốc gia, Hội Khoa học kỹ thuật an toàn thực phẩm Việt Nam (VINAFOSA) đã phối hợp với các đơn vị đầu ngành tổ chức Hội thảo "Áp dụng chuyển đổi số trong quản trị rủi ro an toàn thực phẩm: Từ nghiên cứu đến thực tiễn sản xuất, kinh doanh". Sự kiện quy tụ đại diện từ Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng đông đảo các nhà khoa học, doanh nghiệp và các cơ quan truyền thông. Đây được xem là diễn đàn quan trọng nhằm thúc đẩy việc đưa các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào thực tiễn đời sống, tạo sự kết nối cần thiết giữa chính sách, nghiên cứu khoa học và hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại.

Phát biểu chỉ đạo tại hội thảo, ông Bùi Đức Lập, Phó Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế, khẳng định chủ đề này vô cùng thiết thực và bám sát yêu cầu đổi mới quản lý hiện nay. Ông Lập nhấn mạnh rằng, các định hướng chiến lược của Đảng và Chính phủ thông qua Nghị quyết số 52-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đều xác định chuyển đổi số là động lực hàng đầu để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhằm giúp đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình chuyển đổi số quốc gia cũng nêu rõ định hướng phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số với trọng tâm là lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào lĩnh vực an toàn thực phẩm chính là bước cụ thể hóa các quyết sách này, tạo nền tảng vững chắc để toàn ngành đổi mới phương thức quản lý theo hướng hiện đại, công khai và minh bạch dựa trên nền tảng dữ liệu số.

lap-2_1779935934.jpg
Ông Bùi Đức Lập - Phó Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) phát biểu.

Phân tích sâu hơn về thực trạng, lãnh đạo Cục An toàn thực phẩm chỉ ra rằng chuỗi cung ứng thực phẩm hiện nay đang mở rộng với quy mô ngày càng lớn, đi kèm với sự bùng nổ mạnh mẽ của thương mại điện tử và sự thay đổi nhanh chóng trong phương thức sản xuất, kinh doanh lẫn thói quen tiêu dùng. Thực tế này khiến các nguy cơ mất an toàn thực phẩm trở nên đa dạng, phức tạp và khó kiểm soát hơn rất nhiều nếu chỉ áp dụng các biện pháp truyền thống. Ông Bùi Đức Lập thẳng thắn nhìn nhận, công tác quản lý không thể mãi dừng lại ở phương thức cũ, phụ thuộc nhiều vào hồ sơ giấy tờ, kiểm tra thủ công hay chỉ tập trung vào việc xử lý hậu quả sau khi vi phạm đã xảy ra. Thay vào đó, toàn ngành cần phải dịch chuyển mạnh mẽ từ quản lý riêng lẻ từng khâu sang quản trị tích hợp toàn bộ chuỗi cung ứng, từ thế bị động sang phòng ngừa chủ động thông qua việc phân tích nguy cơ, ra quyết định dựa trên dữ liệu và phát ra cảnh báo sớm.

Định hướng đổi mới này cũng chính là tinh thần rất quan trọng đang được đưa vào quá trình nghiên cứu, sửa đổi Luật An toàn thực phẩm hiện nay. Trong đó, việc số hóa và xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia liên thông đóng vai trò cốt lõi. Hệ thống này hướng tới số hóa dữ liệu trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm thực phẩm, phục vụ đắc lực cho công tác truy xuất nguồn gốc, hậu kiểm, phát cảnh báo, xử lý vi phạm và liên thông dữ liệu thông suốt giữa các bộ, ngành, địa phương.

Theo ông Lập, khi dòng chảy dữ liệu được thu thập, chuẩn hóa và khai thác hiệu quả, hệ thống quản lý sẽ đạt được bốn giá trị thiết thực. Trước hết là nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro, giúp cơ quan chức năng nhận diện sớm các mối nguy để chủ động kiểm soát trước khi sự cố xảy ra. Thứ hai là nâng cao hiệu quả truy xuất nguồn gốc và thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn, giúp việc truy vết nhanh chóng, chính xác, giảm thiểu thiệt hại tối đa cho xã hội. Thứ ba là tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, giúp các doanh nghiệp tuân thủ tốt được giảm thiểu thủ tục kiểm tra không cần thiết trong khi giám sát trọng điểm hơn các cơ sở nguy cơ cao. Cuối cùng, hệ thống sẽ tăng cường quyền tiếp cận thông tin của người tiêu dùng, giúp người dân dễ dàng tra cứu nguồn gốc, chất lượng và các cảnh báo vi phạm, từ đó nâng cao niềm tin vững chắc vào nông sản và thực phẩm Việt Nam.

long-1_1779935995.jpg
GS.TS Phạm Quốc Long - Phó Chủ tịch thường trực, kiêm Tổng Thư ký Hội Khoa học các sản phẩm thiên nhiên Việt Nam trình bày tại hội thảo.

Đồng bộ hóa giải pháp công nghệ và bài toán vượt qua rào cản thực tiễn

Để hiện thực hóa mục tiêu minh bạch hóa từ trang trại đến bàn ăn, hội thảo đã dành nhiều thời gian thảo luận về việc tích hợp các mô hình công nghệ cao như Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Chuỗi khối (Blockchain) và Internet vạn vật (IoT). Nhiều bài tham luận chuyên sâu từ các đơn vị nghiên cứu danh tiếng đã phác thảo rõ nét các giải pháp thực tiễn. Đại diện VINAFOSA đã chia sẻ mô hình quản trị rủi ro toàn diện từ khâu nghiên cứu sản phẩm, sản xuất, kinh doanh đến quy trình thu hồi sản phẩm không an toàn. Khoa Công nghệ thực phẩm thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam mang đến các giải pháp kiểm soát nguy cơ ngay từ khâu sản xuất nông nghiệp đầu vào.

l1_1779936174.jpg
GS.TS Phan Thị Kim - nguyên Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, nguyên Chủ tịch Hội khoa học kỹ thuật An toàn thực phẩm Việt Nam phát biểu.

Trong khi đó, các chuyên gia từ Đại học Bách khoa Hà Nội và Hội Khoa học các sản phẩm thiên nhiên Việt Nam đã làm rõ những cơ hội đột phá cũng như thách thức khi ứng dụng AI để quản lý chất lượng các dòng sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên. Nhằm bảo đảm tính chính xác cho toàn chuỗi cung ứng, Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia cũng giới thiệu các phương thức đánh giá nguy cơ dựa trên nền tảng công nghệ kiểm nghiệm tự động hóa hiện đại. Việc kết hợp IoT để thu thập dữ liệu thời gian thực, AI để phân tích xu hướng và Blockchain để mã hóa, chống làm giả thông tin được các chuyên gia đánh giá là hướng đi quan trọng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong quản trị thực phẩm.

Mặc dù cơ hội phát triển là rất lớn, các chuyên gia tại hội thảo cũng thẳng thắn chỉ ra hàng loạt rào cản đang làm chậm tiến trình chuyển đổi số của ngành thực phẩm. Khó khăn lớn nhất nằm ở hệ thống hạ tầng công nghệ hiện tại chưa có sự đồng bộ, kho dữ liệu của các bên còn rời rạc và tiêu chuẩn kết nối kỹ thuật chưa thống nhất. Thêm vào đó, yêu cầu ngày càng cao về bảo mật thông tin cùng sự hạn chế về nguồn nhân lực am hiểu công nghệ số đang là thách thức không nhỏ. Đặc biệt, việc giải quyết khoảng cách thực tiễn, làm sao để các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã và hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ có thể tiếp cận, tối ưu hóa chi phí và làm chủ công nghệ vẫn là một bài toán hóc búa cần tìm lời giải.

l2_1779936219.webp
Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật an toàn thực phẩm Việt Nam Nguyễn Văn Nhiên tham luận tại hội thảo.

Để đưa chuyển đổi số thực sự đi sâu vào đời sống và phát huy hiệu quả thực tế, ông Bùi Đức Lập khẳng định cần phải xây dựng và phát huy mạnh mẽ mô hình hệ sinh thái liên kết đồng bộ giữa bốn nhà bao gồm nhà quản lý, nhà khoa học, nhà trường viện nghiên cứu và nhà doanh nghiệp. Cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò tiên phong trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành các quy chuẩn dữ liệu thống nhất và bảo đảm an toàn thông tin khi kết nối, chia sẻ giữa các bên. Các viện nghiên cứu và trường đại học cần tích cực chuyển giao các giải pháp kỹ thuật, thuật toán phân tích dữ liệu thực tế và phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Về phía các doanh nghiệp, cần nâng cao ý thức trách nhiệm, chủ động số hóa quy trình sản xuất và minh bạch hóa dữ liệu trong chuỗi cung ứng của chính mình để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe trong nước lẫn quốc tế. Với sự vào cuộc đồng bộ và quyết tâm cao của tất cả các bên liên quan, Việt Nam sẽ từng bước xây dựng thành công một hệ sinh thái quản trị an toàn thực phẩm tiên tiến, bắt kịp các tiêu chuẩn quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng nông sản, tăng cường năng lực cạnh tranh cho thương hiệu Việt và bảo vệ toàn diện sức khỏe cho cộng đồng trong kỷ nguyên số.

Ngọc Anh