Phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi có thể được hỗ trợ tiền mặt
Bộ Y tế đề xuất hỗ trợ tài chính cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi, ngoài ra các địa phương có thể điều chỉnh mức tiền cao hơn.
Mới đây, Bộ Y tế đang tổ chức lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Dân số. Việc lấy ý kiến bắt đầu từ ngày 16/3 và dự kiến văn bản sẽ được hoàn thiện để trình Chính phủ Việt Nam xem xét ban hành trước ngày 30/4.
Trong dự thảo có nội dung về việc đề xuất hỗ trợ tài chính 2 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi nhằm khuyến sinh. Chính quyền cấp tỉnh có thể quyết định áp dụng mức hỗ trợ cao hơn so với khung hỗ trợ chung nếu điều kiện ngân sách cho phép. Việc điều chỉnh này phải được thực hiện trong phạm vi thẩm quyền và dựa trên khả năng cân đối nguồn lực của địa phương.
Hiện nay, có nhiều địa phương đang áp dụng hỗ trợ với đối tượng phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi. Tại TP. Hồ Chí Minh, mức hỗ trợ là 3 triệu đồng và đang dự kiến nâng mức tiền lên 5 triệu đồng.
Theo nội dung dự thảo, Nhà nước đề xuất hỗ trợ 2 triệu đồng cho mỗi lần sinh con đối với hai nhóm đối tượng gồm: phụ nữ thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người và phụ nữ sinh con tại những tỉnh, thành có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế (dưới 2,1 con/phụ nữ). Như vậy, nếu một người phụ nữ sinh 2 con sẽ nhận được 4 triệu đồng, sinh 3 con sẽ được hỗ trợ 6 triệu đồng.
Trong trường hợp, một người phụ nữ thuộc đồng thời nhiều nhóm được hưởng chính sách hỗ trợ, họ sẽ được nhận toàn bộ các khoản hỗ trợ tương ứng. Ví dụ, người phụ nữ vừa là người dân tộc thiểu số vừa sinh sống tại địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế, mức hỗ trợ cho mỗi lần sinh có thể lên tới 4 triệu đồng. Ngoài ra, dự thảo cũng đề xuất các khoản hỗ trợ liên quan đến chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em.
Theo đó, phụ nữ mang thai khi tham gia sàng lọc trước sinh sẽ được hỗ trợ 900.000 đồng/lần; sàng lọc sơ sinh được hỗ trợ 600.000 đồng/lần. Khi sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ được đề xuất kéo dài lên 7 tháng, lao động nam có 10 ngày nghỉ làm việc khi vợ sinh con. Những chính sách hỗ trợ này nhằm khuyến khích người dân sinh con và duy trì mức sinh thay thế.
Thống kê cho thấy, mức sinh tại Việt Nam đang có xu hướng giảm. Năm 2021, mức sinh trung bình đạt 2,11 con/phụ nữ nhưng đến năm 2024 giảm xuống còn 1,91 con và năm 2025 chỉ nhích nhẹ lên 1,93 con/phụ nữ. Với tốc độ giảm như hiện nay, việc duy trì mức sinh thay thế trên phạm vi toàn quốc vào năm 2030 được đánh giá là rất khó đạt.
Bộ Y tế khuyến cáo, nếu tình trạng mức sinh tiếp tục giảm sâu, Việt Nam có thể kết thúc giai đoạn dân số vàng vào năm 2036. Sau đó, lực lượng lao động trong độ tuổi làm việc được dự báo bắt đầu giảm từ năm 2044, và đến khoảng năm 2051, quy mô dân số có thể rơi vào trạng thái tăng trưởng âm. Trong giai đoạn 2069-2074, dân số Việt Nam được dự báo giảm trung bình khoảng 461.000 người mỗi năm.
Luật Dân số được xây dựng dựa trên 4 nhóm chính sách trọng tâm gồm:
Mục tiêu là duy trì mức sinh thay thế.
Tập trung giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Theo quy định, mọi hành vi lựa chọn giới tính thai nhi đều bị nghiêm cấm dưới bất kỳ hình thức nào. Việc cung cấp thông tin về giới tính thai nhi chỉ được phép thực hiện trong trường hợp phục vụ chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan đến giới tính theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Thích ứng với quá trình già hóa dân số. Nhà nước khuyến khích người dân chủ động chuẩn bị cho tuổi già thông qua việc chăm sóc sức khỏe, xây dựng kế hoạch tài chính, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và duy trì các hoạt động xã hội. Đồng thời, Nhà nước cũng khuyến khích phát triển hình thức chăm sóc người cao tuổi tại gia đình, cộng đồng và các cơ sở chuyên môn.
Nâng cao chất lượng dân số. Cụ thể, nam và nữ được khuyến khích khám sức khỏe trước khi kết hôn; tăng cường các hoạt động sàng lọc, chẩn đoán và điều trị bệnh trước sinh và sau sinh nhằm phát hiện sớm những bệnh lý bẩm sinh có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.
Luật cũng bảo đảm quyền của cá nhân và các cặp vợ chồng trong việc tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, cũng như quyền tự quyết định các vấn đề liên quan đến sinh sản dựa trên sự hiểu biết và tinh thần tự nguyện.


