Chỉ hơn 1 ngày nữa, các trường hợp thuộc diện này sẽ được xóa khoản nợ thuế
Từ ngày 1/7/2026, việc xóa tiền thuế nợ sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 21 Luật Quản lý thuế 2025.
Quy định này nêu rõ các trường hợp được xóa tiền thuế nợ, trách nhiệm hoàn trả trong một số trường hợp sau khi được xóa nợ, đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc báo cáo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện.
Theo Điều 21 Luật Quản lý thuế 2025, có 4 nhóm trường hợp được xem xét xóa tiền thuế nợ.
Thứ nhất là cá nhân đã chết, bị Tòa án tuyên bố là đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản, bao gồm cả tài sản được thừa kế.
Thứ hai là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đã bị Tòa án tuyên bố phá sản, đã hoàn thành việc thanh toán các khoản nợ theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản nhưng không còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ thuế.
Thứ ba là người nộp thuế không thuộc 2 trường hợp nêu trên nhưng đã bị cơ quan quản lý thuế áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 49 Luật Quản lý thuế 2025, trong khi khoản tiền thuế nợ đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp và không còn khả năng thu hồi.
Thứ tư là các trường hợp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa hoặc dịch bệnh trên phạm vi rộng, đã được xem xét miễn tiền chậm nộp theo khoản 5 Điều 16 Luật Quản lý thuế 2025, đồng thời đã được gia hạn nộp thuế, các khoản thu khác, tiền chậm nộp và tiền phạt theo điểm a khoản 7 Điều 14 của luật này nhưng vẫn không có khả năng phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh và không có khả năng nộp số tiền thuế còn nợ.
Luật cũng quy định, đối với người nộp thuế là cá nhân, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, chủ hộ gia đình, chủ doanh nghiệp tư nhân và chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã được xóa tiền thuế nợ theo trường hợp khoản nợ quá 10 năm không có khả năng thu hồi quy định tại điểm c khoản 1 Điều 21, nếu sau đó quay trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới thì phải hoàn trả cho Nhà nước khoản tiền thuế nợ đã được xóa trước đó.
Về trách nhiệm quản lý, Điều 21 quy định Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp kết quả xóa tiền thuế nợ trên địa bàn. Bộ Tài chính có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo Chính phủ kết quả xóa tiền thuế nợ để Chính phủ báo cáo Quốc hội khi thực hiện quyết toán ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, Chính phủ được giao quy định chi tiết đối với trường hợp xóa tiền thuế nợ do ảnh hưởng của thiên tai, thảm họa, dịch bệnh quy định tại điểm d khoản 1 Điều 21, đồng thời hướng dẫn các nội dung liên quan đến điều kiện xóa tiền thuế nợ, thẩm quyền quyết định xóa nợ, thời hạn giải quyết hồ sơ và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thu hồi các khoản tiền thuế nợ đã được xóa theo quy định.
Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng được giao ban hành quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục xóa tiền thuế nợ đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 và khoản 2 Điều 21 Luật Quản lý thuế 2025.



