Vùng chè nguyên liệu chuẩn hóa, nâng bước giá trị chè Thái Nguyên vươn xa
Từ lợi thế vùng chè rộng lớn, Thái Nguyên đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại sản xuất theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa nếu muốn tạo bước chuyển thực chất về chất lượng và giá trị. Đẩy mạnh liên kết và ứng dụng khoa học công nghệ không chỉ là giải pháp, mà chính là con đường để ngành chè địa phương nâng tầm cạnh tranh, khẳng định vị thế trên bản đồ nông sản Việt.
Thách thức từ sản xuất nhỏ lẻ, chất lượng thiếu đồng đều
Thái Nguyên hiện là địa phương dẫn đầu cả nước về diện tích, năng suất và sản lượng, với gần 24.000ha chè. Sản lượng chè búp tươi năm 2025 đạt trên 280.000 tấn, cùng nhiều vùng danh tiếng như Tân Cương, La Bằng, Trại Cài hay Khe Cốc. Tuy nhiên, lợi thế lớn này vẫn chưa được chuyển hóa tương xứng thành sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế, khi quy mô sản xuất nông hộ vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu.
Thực trạng sản xuất nhỏ lẻ, phân tán khiến liên kết giữa nông dân với các hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ, đồng thời làm gia tăng sự chênh lệch về chất lượng nguyên liệu giữa các vùng, thậm chí ngay trong cùng một khu vực. Trong khi đó, thị trường hiện đại ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe về tính đồng nhất, an toàn thực phẩm cũng như quy trình truy xuất nguồn gốc minh bạch.
Ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, đánh giá diện tích chè những năm qua tăng trưởng tích cực, song sản xuất nhỏ lẻ vẫn phổ biến và phụ thuộc nhiều vào lao động thủ công. Vì vậy, các giải pháp ưu tiên hiện nay là tập trung quy hoạch vùng nguyên liệu, thúc đẩy liên kết sản xuất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số. Việc chuyển đổi từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu được xác định là trọng tâm trong Nghị quyết số 11-NQ/TU của tỉnh.
Vấn đề đặt ra là nếu nguyên liệu vẫn hình thành từ hàng nghìn hộ sản xuất rời rạc với những quy trình khác nhau, việc tạo lập một mặt bằng chất lượng ổn định gần như không khả thi. Khi chất lượng thiếu đồng đều, các khâu chế biến sâu và xây dựng thương hiệu bền vững cũng khó có thể bứt phá. Do đó, vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản chính là “điểm tựa” để ngành chè Thái Nguyên chuyển từ lợi thế tự nhiên sang lợi thế cạnh tranh dựa trên đổi mới sáng tạo.
Bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc Hợp tác xã chè Hảo Đạt, cho biết đơn vị hiện có gần 70ha vùng nguyên liệu tại xã Tân Cương, song nhiều diện tích vẫn còn nhỏ lẻ, xen kẽ. Để khắc phục, đơn vị đã đề xuất xây dựng dự án vùng sản xuất tập trung quy mô 20 đến 30ha. Nếu được triển khai, đây sẽ là điều kiện thuận lợi để áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật, qua đó giảm sức lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm một cách rõ rệt.
Ông Tô Hà Phương, Phó Chủ tịch UBND xã La Bằng, khẳng định địa phương đang chú trọng quản lý và quy hoạch các vùng sản xuất chè tập trung. Xã khuyến khích người dân chuyển đổi những diện tích đất nông, lâm nghiệp kém hiệu quả sang trồng chè theo quy chuẩn chung. Sự chủ động từ cấp cơ sở trong việc xác lập vùng nguyên liệu rõ ràng sẽ góp phần ổn định chất lượng sản phẩm, đồng thời tạo nền tảng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các nhà máy chế biến.
Chuẩn hóa vùng nguyên liệu, nâng tầm thương hiệu chè
Để giải quyết bài toán chất lượng, Thái Nguyên xác định vùng nguyên liệu phải được quy hoạch và vận hành theo một hệ tiêu chuẩn thống nhất. Từ khâu chọn giống, vật tư đầu vào đến quy trình chăm sóc, thu hái đều cần được tổ chức chặt chẽ thông qua vai trò đầu mối của các hợp tác xã. Khi vùng sản xuất được số hóa và quản lý bằng dữ liệu, sản phẩm chè không chỉ đáp ứng tốt hơn yêu cầu của hệ thống phân phối hiện đại mà còn gia tăng độ tin cậy trên thị trường.
Mục tiêu đến năm 2030, toàn tỉnh phấn đấu có 70% diện tích chè được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn GAP hoặc hữu cơ. Đồng thời, tất cả các doanh nghiệp và hợp tác xã có vùng nguyên liệu phải ứng dụng công nghệ số trong canh tác và truy xuất nguồn gốc. Đây không chỉ là thước đo của quá trình hiện đại hóa mà còn là nền tảng để các đơn vị mạnh dạn đầu tư nhà máy chế biến sâu ngay tại các vùng chè tập trung.
Ông Vũ Văn Phán, Chủ tịch Hội Chè Thái Nguyên, nhận định việc tổ chức tốt vùng nguyên liệu sẽ tạo cú hích quan trọng cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Điều này không chỉ nâng cao chuỗi giá trị trà mà còn mở rộng dư địa để sản phẩm chè của địa phương thâm nhập sâu hơn vào các thị trường. Khi các tiêu chuẩn được áp dụng thống nhất, sự gắn kết giữa người trồng chè và doanh nghiệp sẽ trở nên bền chặt hơn thông qua các hợp đồng liên kết dài hạn.
Việc chuẩn hóa nguyên liệu cũng là chìa khóa để nâng tầm các sản phẩm OCOP đạt hạng 5 sao cấp quốc gia. Tại Hợp tác xã nông sản Phú Lương, vùng nguyên liệu đã mở rộng lên hơn 16ha và được quản lý bằng nhật ký điện tử FaceFarm. Quy trình canh tác hữu cơ tuần hoàn, khép kín giúp sản phẩm trà tôm nõn Hương Quê khẳng định giá trị vượt trội. Khi đạt chuẩn 5 sao, mức giá sản phẩm có thể tăng khoảng 20% so với trước đây, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
Anh Tống Văn Viện, Giám đốc Hợp tác xã nông sản Phú Lương, chia sẻ định hướng ngay từ đầu của đơn vị là phát triển nông nghiệp bền vững, minh bạch. Quá trình xây dựng thương hiệu luôn gắn liền với việc chuyển giao kỹ thuật cho các hộ liên kết nhằm tạo nền tảng vững chắc. Việc nâng tầm toàn diện từ chất lượng đến hình ảnh thương hiệu giúp sản phẩm dễ dàng tiếp cận các thị trường lớn và từng bước tham gia sâu hơn vào hệ thống phân phối chuyên nghiệp.
Ông Nguyễn Mỹ Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết Thái Nguyên hiện nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về số lượng sản phẩm OCOP 5 sao. Đây là lợi thế quan trọng để ngành nông nghiệp tiếp tục thu hút đầu tư vào công nghiệp chế biến sâu, qua đó giảm phụ thuộc vào việc bán nguyên liệu thô. Với sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền và người dân, quá trình chuẩn hóa vùng nguyên liệu đang từng bước tạo lực đẩy bền vững, mở đường để chè Thái Nguyên khẳng định vị thế xứng tầm trên thị trường quốc tế.