Tiểu thư giàu có bậc nhất khu phố cổ Hà Nội xưa, bố mẹ yêu chiều 'ăn miếng gà, thưởng nhẫn kim cương': Có hôn nhân viên mãn bên chồng kỹ sư, được gọi là 'bà tiên kháng chiến'

Đời sống 11/04/2026 10:41

Trong số "tứ đại mỹ nhân" Hà thành, bà là người được lịch sử và giai thoại ghi nhận có cuộc đời viên mãn nhất.

Những năm 30 của thế kỷ trước, người ta thường nhắc đến tứ đại mỹ nhân Hà thành gồm cô Síu Cột Cờ, cô Phượng Hàng Ngang, cô Nga Hàng Gai và cô Bính Hàng Đẫy. Họ xuất thân từ những gia đình danh giá, giàu có bậc nhất khu phố cổ nên có vẻ đẹp đài các và phong thái khiến bao người ngưỡng mộ.

Trải qua thời gian, các giai thoại về 4 mỹ nhân vẫn được lưu truyền, trong đó cuộc đời của cô Bính Hàng Đẫy được xem là bình yên và viên mãn hơn cả.

anh-man-hinh-2026-04-11-luc-01.02.23_1775844543.png
Nhan sắc nức tiếng một thời của giai nhân Đỗ Thị Bính. Ảnh: Internet

Giai nhân áo đen của đất Hà thành

Cô Bính Hàng Đẫy tên thật là Đỗ Thị Bính, sinh năm 1915 tại ngôi nhà số 37 Hàng Đẫy (nay là 67 Nguyễn Thái Học, Hà Nội). Đây là một trong những căn nhà mang kiến trúc Pháp dành cho tầng lớp thượng lưu, đến nay vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích xưa, trong đó có giàn hoa hồng trước cửa - chi tiết gắn với nhiều câu chuyện về người đẹp.

Đỗ Thị Bính là 1 trong 19 người con của nhà tư sản Đỗ Lợi - nhà thầu khoán thuộc hàng lớn nhất Hà Nội trước những năm 1930 và là một trong những thành viên của dòng họ Đỗ Bá Già (thôn Tiên Lữ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc cũ - nay thuộc tỉnh Phú Thọ). 

Cụ Đỗ Lợi (1893-1961) trước năm 1945 là nhà tư sản kinh doanh vật liệu xây dựng. Thân sinh ra cụ Đỗ Lợi là cụ Đỗ Văn Kỳ, tự Phúc Thiện. Cụ Đỗ Văn Kỳ là Chánh tổng thời cũ, là người mẫn thế, nhìn xa trông rộng và rất gần gũi với mọi người, nên người dân quý mến gọi là cụ Bá Già. Các con của cụ trong đó có cụ Đỗ Lợi đều ra Hà Nội lập nghiệp và thành đạt.

Trong môi trường gia phong nề nếp, Đỗ Thị Bính được giáo dục bài bản, tiếp cận cả văn hóa truyền thống lẫn phương Tây. Bà thông thạo tiếng Pháp, biết chơi nhạc cụ, đồng thời giữ lối sống nền nã, chuẩn mực.

Cô Bính Hàng Đẫy sở hữu nhan sắc được ví khiến “chim sa cá lặn”, nổi bật với vẻ đẹp thanh tú: Làn da trắng, gương mặt trái xoan, đôi mắt bồ câu và vóc dáng mảnh mai. Sinh thời, bà có thói quen mặc đồ đen. Có lẽ, đó cũng là lý do để người đời gọi bà là "người đàn bà áo đen". Dù xinh đẹp tuyệt trần, thói quen mặc áo dài màu đen và màu trầm khiến bà luôn toát lên sự thanh lịch, bí ẩn và quý phái đặc trưng của giới thượng lưu Hà Nội lúc bấy giờ. Nhiều người đánh giá bà là người có phong thái Tràng An chuẩn mực nhất.

anh-man-hinh-2026-04-11-luc-01.04.02_1775844550.png
Cô Bính Hàng Đẫy sở hữu nhan sắc được ví khiến “chim sa cá lặn”. Ảnh: Internet
anh-man-hinh-2026-04-11-luc-01.03.44_1775844549.png
Hà Thành tứ mỹ nhân, giai nhân Đỗ Thị Bính (người mặc áo dài màu đen, hàng ngồi). Ảnh: Internet

Cụ Đỗ Lợi vô cùng yêu con gái, thấy Đỗ Thị Bính khảnh ăn nên cụ đã cho mời một đầu bếp nấu cho vua Bảo Đại về nhà trông coi việc bếp núc. Vì từ bé đến lớn bà vẫn giữ thói quen không chịu ăn thịt gà, trong một bữa cơm gia đình, cụ Đỗ Lợi bảo nếu con chịu ăn một miếng thịt gà, ông sẽ thưởng 1 nhẫn kim cương, ăn 2 miếng thưởng 2 nhẫn kim cương.

Cô Bính Hàng Đẫy sở hữu đầy đủ những phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh, sự trầm tĩnh, khôn khéo, dịu hiền mà trí tuệ. Cũng vì điều này mà dù là người đẹp nức tiếng Hà thành và con nhà giàu có nhưng bà không kiêu kỳ mà nhất mực hoà đồng, giản dị và gần gũi với mọi người.

Nàng thơ bí ẩn, người yêu trong mộng tưởng của thi sĩ nổi tiếng

Những năm 1930, gần phố Hàng Đẫy là khu Văn Miếu. Đây là nơi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp - con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ở. Nguyễn Nhược Pháp lớn hơn cô Bính Hàng Đẫy 1 tuổi, làm việc ở báo Annam Nouveau. Khi ấy, Đỗ Thị Bính thường có thói quen ra vườn tưới cây. Bà tưới gốc tầm xuân sum suê cành lá và thường ngồi đọc sách ở chiếc ghế mây trong vườn. Vì mê Đỗ Thị Bính nên Nguyễn Nhược Pháp luôn mượn cớ đi qua ngôi nhà 37 Hàng Đẫy để ngắm nhìn người đẹp. 

Đỗ Thị Bính là giai nhân nổi tiếng, được nhiều người theo đuổi, vì vậy gia đình bà không coi sự xuất hiện của một nhà thơ trẻ là điều đặc biệt. Trong khi đó nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp lại mặc cảm vì gia cảnh nghèo của mình nên chẳng dám ngỏ lời. Nhiều tư liệu cho rằng Nguyễn Nhược Pháp có vóc người nhỏ bé thư sinh, tính tình dù rất năng động nhưng đứng trước phái nữ lại hay rụt rè, bẽn lẽn…

Chuyện kéo dài gần 1 năm trời đến nỗi cả 2 gia đình đều biết, nhưng Nguyễn Nhược Pháp và Đỗ Thị Bính chưa một lần gặp gỡ chính thức.

anh-man-hinh-2026-04-11-luc-01.03.25_1775844547.png
Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp. Ảnh: Internet

Năm 1935, tập thơ “Ngày xưa” ra đời, đưa Nguyễn Nhược Pháp trở thành một trong những gương mặt đáng chú ý của phong trào Thơ mới. Khi đọc thơ ông, ai cũng hiểu hình bóng người con gái tuyệt vời trong những bài thơ như “Mỵ Nương”, “Tay ngà”, “Cô gái bên bờ ao”, đều được lấy cảm hứng từ người đẹp Đỗ Thị Bính.

"Cúi đầu nàng tha thướt/ Yêu kiều như mây qua/ Mắt xanh nhìn man mác/ Mỉm cười vê cành hoa” đều là những mỹ từ mà Nguyễn Nhược Pháp dành cho người tình trong mộng Đỗ Thị Bính. Người đẹp Đỗ Thị Bính cũng hiểu được tình cảm đó nhưng nhà thơ đa tài, bạc mệnh đã sớm ra đi ở tuổi 24 vì căn bệnh lao.

Cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối, hạnh phúc, bền vững

Dù trải qua mối tình đầu dang dở, trong số “tứ đại mỹ nhân” Hà thành, cô Bính Hàng Đẫy vẫn được xem là người có cuộc đời êm đềm và trọn vẹn hơn cả.

Sau khi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời khoảng 1 năm, gia đình đã thu xếp để bà kết hôn với kỹ sư Bùi Tường Viên - một trong những kỹ sư đầu tiên của Việt Nam, đồng thời là em trai của luật sư nổi tiếng Bùi Tường Chiểu. Từ năm 16 tuổi, ông Viên sang Pháp theo học ngành silicat, thuộc lớp trí thức kỹ thuật hiếm hoi của Việt Nam thời bấy giờ. Về nước, ông đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng Trường Mỹ nghệ Đông Dương - tiền thân của Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội ngày nay.

Cuộc hôn nhân ban đầu được sắp đặt theo khuôn mẫu “môn đăng hộ đối” của tầng lớp tư sản, song thực tế lại phát triển theo một hướng khác. Trong ngày cưới, cô Bính Hàng Đẫy khoác lên mình bộ áo dài màu vàng được dệt bằng chỉ kim tuyến, trở thành tâm điểm của một lễ thành hôn xa hoa kéo dài nhiều ngày, quan khách tấp nập như trẩy hội. 

Ngày lên xe hoa, bà Đỗ Thị Bính không hề có chút tình cảm nào với chồng bởi trước họ chưa từng gặp mặt nhau. Phải đến khi sống cùng nhau bà mới bắt đầu yêu chồng. Không giống với các cuộc hôn nhân “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” của tầng lớp tư sản ngày xưa, lấy nhau về người vợ chỉ biết phục tùng và chăm sóc chồng theo khía cạnh trách nhiệm và mệnh lệnh, cuộc hôn nhân của bà Đỗ Thị Bính và ông Bùi Tường Viên tồn tại bởi tình yêu, sự ngưỡng mộ và cảm thông. Ông Bùi Tường Viên chưa bao giờ to tiếng với vợ, lúc nào cũng thể hiện sự tôn trọng nhường nhịn.

Bước ngoặt lớn đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Hưởng ứng chủ trương tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống từ năm 1946, gia đình hai bên đều tham gia cách mạng. Từ một tiểu thư Hà thành sống trong nhung lụa, bà Bính theo chồng tản cư lên Tuyên Quang, bắt đầu cuộc sống hoàn toàn khác biệt nơi vùng núi.

Trong điều kiện thiếu thốn, bà nhanh chóng thích nghi. Từ việc làm bánh, kẹo, bún thang đến buôn bán nhỏ tại các phiên chợ quê, bà chủ động xoay xở để cải thiện sinh kế gia đình. Bên cạnh đó, bà còn tự tay trồng rau, nuôi gà, chế biến thực phẩm, duy trì nếp sống gọn gàng, ngăn nắp vốn có của người Hà Nội.

Đáng chú ý, trong thời gian ở Sơn Dương, bà được bác sĩ Bùi Xuân Tám - em trai họa sĩ Bùi Xuân Phái, hướng dẫn kỹ thuật tiêm thuốc kilofooc để điều trị sốt rét. Dù không qua đào tạo y khoa, bà đã trực tiếp cứu giúp nhiều người dân thoát khỏi căn bệnh nguy hiểm này. Sự tận tâm, không nhận tiền công của bà khiến người dân địa phương quý mến, gọi bà bằng những cái tên trìu mến như “bà tiên kháng chiến”.

anh-man-hinh-2026-04-11-luc-01.02.49_1775844545.png
Đỗ Thị Bính không bao giờ ỷ lại vào nhan sắc trời cho, ngược lại luôn chăm lo, tu dưỡng cho bản thân và gia đình. Ảnh: Internet

Sau năm 1954, khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, gia đình bà trở về Hà Nội, sinh sống tại căn nhà số 67 Nguyễn Thái Học. Từ đây, bà tham gia công tác giáo dục, gắn bó với Phòng Giáo dục khu Hai Bà Trưng cho đến khi nghỉ hưu. Cuộc sống của bà trở lại nhịp điệu bình dị, lặng lẽ, nhưng vẫn đậm dấu ấn của một người phụ nữ từng đi qua những năm tháng lịch sử nhiều biến động.

Năm 1985, bà Bính mua đất ở khu Trung Tự rồi xây một căn nhà cấp bốn ở cho đến cuối đời. Năm 1986, chồng bà qua đời sau 10 năm chống chọi với căn bệnh ung thư. Bà Bính thêm một lần run rẩy đau xót mất đi người bạn đời tri âm, tri kỷ.

Trước Tết năm 1992, bệnh cao huyết áp của bà như dòng điện cao thế phập phù không ổn định, lên xuống thất thường. Gia đình đưa bà vào bệnh viện chạy chữa. Sát Tết, bà được về nhà ăn Tết. Hơn 1 tháng trời, ngày nào bà cũng chỉ thèm ăn mỗi món bún thang, con cháu lại xách cặp lồng đạp xe tới chợ Hôm mua về cho bà ăn.

Sau cái Tết năm ấy, ngày mồng 9 tháng Giêng Âm lịch, bà thấy trong người không được khỏe rồi nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ ngàn thu, hưởng thọ 77 tuổi. Theo nguyện vọng, bà được mặc chiếc áo dài màu đen - gam màu đã gắn bó với bà gần như suốt cuộc đời, trong giây phút tiễn biệt.

Anh Khôi
Tin đáng đọc