Huy động 30.000 cán bộ, công nhân cùng 5.000 chiến sĩ ngăn sông, đào đắp hàng chục triệu mét khối đất đá suốt 15 năm, xây công trình kỳ vĩ bậc nhất Việt Nam thế kỷ XX
Đây được xem là một trong những công trình thế kỷ của ngành năng lượng Việt Nam.
Công trình Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà được xem là một trong những dự án hạ tầng năng lượng - thủy lợi quan trọng bậc nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX. Với công suất thiết kế 1.920 MW, đây từng là nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, đảm nhiệm đồng thời nhiều chức năng chiến lược, trong đó nổi bật là điều tiết lũ cho Thủ đô Hà Nội và khu vực Đồng bằng sông Hồng, cùng nhiệm vụ cung cấp điện cho hệ thống quốc gia.
Công trình đa mục tiêu, quy mô đặc biệt
Thủy điện Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình cũ, nay thuộc tỉnh Phú Thọ) được khởi công ngày 6/11/1979 và khánh thành ngày 20/12/1994, với sự hỗ trợ toàn diện về thiết kế, công nghệ và thiết bị từ Liên Xô. Công trình có 4 nhiệm vụ chính: phát điện, chống lũ, cấp nước và cải thiện giao thông thủy.
Đập chính có chiều dài 734m, cao 128m, sử dụng kết cấu đập đất đá lõi sét kết hợp màn chống thấm. Để hoàn thành hạng mục này, công trường phải tiến hành 2 đợt ngăn sông quy mô lớn vào các năm 1983 và 1986.
Hệ thống xả lũ gồm 12 cửa xả đáy và 6 cửa xả mặt, lưu lượng xả tối đa đạt 35.400m³/s. Hồ chứa có dung tích khoảng 9,8 tỷ m³ nước. Tại khu vực xả lũ, các trụ bê tông dạng hình khối được bố trí nhằm giảm vận tốc dòng chảy khi vận hành.
Nhà máy được đặt ngầm trong lòng núi, tiếp cận qua hệ thống hầm dài hơn 300m, bên trong bố trí nhiều phòng chức năng. Toàn bộ thiết bị chính gồm 8 tổ máy phát điện, máy biến áp và các công trình phụ trợ được lắp đặt trong không gian ngầm này. Tổng công suất đạt 1.920 MW, mỗi tổ máy 240 MW; hệ thống vận hành được kiểm soát thông qua phần mềm chuyên dụng.
Để xử lý nền móng trong điều kiện địa chất phức tạp, các chuyên gia Liên Xô đã áp dụng công nghệ khoan phun xi măng và khoan phụt, kế thừa kinh nghiệm từ công trình đập Aswan (Ai Cập). Vữa sét được bơm vào nền cát, cuội sỏi dưới lòng sông, sau đó khoan vào nền đá và phun xi măng tạo liên kết. Giải pháp này được lựa chọn trên cơ sở đặc điểm khu vực Tây Bắc có thể xảy ra động đất tới cấp 8, đồng thời lưu lượng nước biến động lớn (mùa khô khoảng 600m³/s, mùa lũ lên tới 14.800m³/s).
Lực lượng tham gia công trình gồm khoảng 30.000 cán bộ, công nhân; 5.000 chiến sĩ; 750 chuyên gia Liên Xô và 1.000 cán bộ quản lý. Ở giai đoạn cao điểm, công trường huy động tới hàng chục nghìn lao động, vận hành liên tục theo chế độ nhiều ca.
Khối lượng thi công đạt quy mô lớn với hơn 20,5 triệu m³ đất đá đào, 26,6 triệu m³ đắp; gần 1,9 triệu m³ bê tông; hơn 46.700 tấn thiết bị và kết cấu kim loại; cùng khoảng 205.000m khoan phun. Lõi đập được đắp bằng đất sét nhằm bảo đảm khả năng chống thấm. Kết cấu ngầm trong núi giúp công trình có khả năng chịu động đất cấp 8 và các tác động mạnh từ bên ngoài.
Quá trình thi công đối mặt nhiều thách thức, đặc biệt là trận lũ lớn năm 1985 đe dọa hệ thống đê quai. Công trường duy trì thi công liên tục, bảo đảm tiến độ trong điều kiện khắc nghiệt.
Sau 9 năm thi công, vào 14 giờ 10 phút ngày 24/12/1988, tổ máy đầu tiên phát điện lên lưới quốc gia. Đến ngày 4/4/1994, tổ máy thứ 8 hoàn thành. Công trình chính thức khánh thành ngày 20/12/1994.
Biểu tượng lịch sử của một thời
Trong giai đoạn đầu vận hành, sản lượng điện của Thủy điện Hòa Bình chiếm khoảng 40% tổng sản lượng toàn hệ thống. Sau hơn 30 năm hoạt động, nhà máy đã sản xuất khoảng 230 tỷ kWh, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Bên cạnh đó, chức năng điều tiết lũ được đánh giá là đặc biệt quan trọng. Hồ chứa giúp cắt giảm đỉnh lũ, hạn chế rủi ro ngập lụt cho Hà Nội và các tỉnh đồng bằng, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và diễn biến thời tiết cực đoan.
Tại khu nhà truyền thống bên bờ trái đập, nhiều hiện vật gắn với quá trình thi công được lưu giữ, trong đó có chiếc máy xúc từng đảm nhiệm công việc khoan, đặt thuốc nổ và bốc xúc đất đá trong giai đoạn đào hầm, xây dựng thân đập. Đây là phương tiện cơ giới chủ lực trong những ngày đầu thi công trong điều kiện địa hình núi đá phức tạp.
Bên bờ đập, đài tưởng niệm được xây dựng với 168 bát hương và bia khắc tên những cán bộ, công nhân và chuyên gia đã thiệt mạng trong quá trình thi công, thể hiện sự tri ân đối với những đóng góp và hy sinh.
Một chi tiết đáng chú ý là bức thư của lãnh đạo công trường và chuyên gia Liên Xô, trong đó có chữ ký của Tổng chuyên viên, được niêm phong trong khối bê tông tại nhà quan sát bờ trái. Văn bản được viết bằng tiếng Việt và tiếng Nga, dự kiến mở vào ngày 1/1/2100, như một thông điệp gửi tới các thế hệ sau.
Nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nguồn nước, đầu năm 2021, dự án mở rộng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình được khởi công, bổ sung 2 tổ máy với tổng công suất 480 MW. Sau khi hoàn thành, tổng công suất toàn nhà máy sẽ đạt 2.400 MW, tăng cường năng lực phát điện và điều tiết hệ thống, đồng thời duy trì vị thế trong nhóm các nhà máy thủy điện quy mô lớn của khu vực.
Cùng với chức năng sản xuất điện, khu vực nhà máy hiện được khai thác phục vụ tham quan, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Các điểm đến chính gồm khu tổ máy, nhà truyền thống, đài tưởng niệm và khu tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đồi Ông Tượng.
Tượng đài cao 18m, nặng hơn 400 tấn, đặt tại vị trí cao 128m so với mực nước biển, cho phép quan sát toàn cảnh công trình và lòng hồ. Đây là điểm nhấn trong quần thể, gắn với dấu mốc lịch sử khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu định hướng khai thác dòng sông Đà phục vụ phát triển lâu dài.




