Giáo sư đầu tiên của ngành múa Việt Nam được phong NSND: Từng giữ chức Phó Viện trưởng, được trao tặng danh hiệu Công dân Thủ đô ưu tú
Đầu năm 2017, ông vinh dự là một trong số các văn nghệ sĩ được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý.
GS.TS.NSND Lê Ngọc Canh là một trong những tên tuổi có ảnh hưởng sâu rộng đối với nghệ thuật múa Việt Nam hiện đại. Hơn 7 thập kỷ hoạt động nghệ thuật, ông để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực từ biểu diễn, sáng tác, biên đạo đến nghiên cứu lý luận, đào tạo và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.
Năm 2020, ông là một trong 10 cá nhân được TP. Hà Nội trao tặng danh hiệu Công dân Thủ đô ưu tú nhằm ghi nhận những đóng góp nổi bật đối với nghệ thuật múa và văn hóa Thủ đô. Trước đó, ông đã được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2017 và trở thành Giáo sư đầu tiên của ngành múa Việt Nam vào năm 2014.
Cậu bé làng Đa Sỹ bước vào cuộc đời cách mạng
Lê Ngọc Canh sinh năm 1933 tại làng nghề Đa Sỹ, nay thuộc phường Kiến Hưng, Hà Nội. Đây là làng nghề rèn nổi tiếng của vùng đất Thăng Long với lịch sử hàng trăm năm. Năm 1945, khi mới 12 tuổi, ông rời quê lên phố Hàng Ngang giúp việc cho người chú họ. Chính tại đây, cuộc đời cậu bé nghèo làng Đa Sỹ rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.
Trong một lần gặp bác lái xe tên Điền ở phố Phủ Doãn, cậu bé Lê Ngọc Canh được hỏi có muốn tham gia cách mạng hay không. Khi nghe giải thích rằng cách mạng là con đường giúp người dân thoát khỏi đói nghèo, hướng tới tự do và tiến bộ, ông đã đồng ý ngay. Sau đó, ông được giới thiệu với ông Nguyễn Tiến Lợi - Trung đội trưởng Tự vệ thành Hà Nội, để làm nhiệm vụ liên lạc.
Năm 1946, Lê Ngọc Canh chính thức tham gia quân đội, trở thành thành viên của Đội Thiếu sinh quân quyết tử. Trong cuộc chiến đấu 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội cuối năm 1946, ông là một trong gần 200 thiếu niên từ 9 đến 15 tuổi tham gia lực lượng "vệ út" của Trung đoàn Thủ đô.
Được phân công tại Đại đội 14, Tiểu đoàn 103, Trung đoàn Thủ đô, cậu thiếu niên Lê Ngọc Canh đảm nhận nhiệm vụ truyền tin, chuyển mật khẩu, dẫn đường cho lực lượng tiếp viện. Nhiều thời điểm, để hoàn thành nhiệm vụ giữa vòng vây của quân Pháp, ông phải di chuyển qua mái nhà hoặc đục tường từ nhà này sang nhà khác.
Ngày 17/2/1947, ông cùng Trung đoàn Thủ đô thực hiện cuộc rút quân lịch sử khỏi Hà Nội. Theo ký ức của ông, gần 1.200 cán bộ, chiến sĩ đã bí mật vượt qua vòng vây để lên chiến khu Việt Bắc, mở đầu chặng đường kháng chiến lâu dài.
Cơ duyên với nghệ thuật múa từ chiến khu Việt Bắc
Những năm tháng tại chiến khu Việt Bắc trở thành bước ngoặt lớn trong cuộc đời Lê Ngọc Canh. Tại đây, ông được tiếp tục học văn hóa, học hát, học múa và tham gia các hoạt động văn nghệ phục vụ bộ đội, nhân dân. Những người thầy đầu tiên như nhạc sĩ Lương Ngọc Trác hay thầy Đỗ Chí đã truyền cho ông kiến thức nghệ thuật và niềm say mê với sân khấu.
Đặc biệt, quá trình sống cùng đồng bào các dân tộc Tày, Thái, Dao... giúp ông tiếp cận kho tàng múa dân gian phong phú của các vùng miền. Từ những trải nghiệm ấy, tình yêu với nghệ thuật múa dần hình thành và theo ông suốt cuộc đời.
Khi còn là thành viên đội tuyên văn tại chiến khu, ông đã sáng tác ca khúc “Nhắn anh Vệ quốc”, biên đạo các tiết mục “Dáng đứng chiến sĩ”, “Ba quân nhân giỏi”. Những năm tiếp theo, ông tiếp tục sáng tác các kịch múa như “Anh hùng Bế Văn Đàn”, “Theo cờ giải phóng”, “Cô gái giao liên”, trong đó nhiều tác phẩm giành Huy chương Vàng quốc gia.
Trong quá trình công tác, Lê Ngọc Canh luôn ý thức việc học là nền tảng để phát triển nghề nghiệp.
Ông lần lượt tốt nghiệp Đại học Sư phạm chuyên ngành Văn học, Đại học Ngoại ngữ chuyên tu tiếng Nga và tiếng Bulgari. Đây là nền tảng hiếm có đối với một nghệ sĩ múa thời bấy giờ. Năm 1968, ông được cử sang Bulgari đào tạo nghiên cứu sinh ngành Nghệ thuật học. Khi lên đường, con trai đầu lòng của ông mới chào đời được 3 ngày.
Sau 4 năm học tập và nghiên cứu, năm 1973, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Nghệ thuật học. Đây là một trong những học vị Tiến sĩ đầu tiên của lĩnh vực nghệ thuật múa tại Việt Nam.
Từ những năm 1960 đến đầu thế kỷ XXI, Lê Ngọc Canh vừa sáng tác, biểu diễn, biên đạo, vừa nghiên cứu và giảng dạy.
Trong lĩnh vực sáng tác, ông để lại hơn 174 tác phẩm múa thuộc nhiều thể loại khác nhau. Các tác phẩm như “Giã gạo dưới trăng”, “Biển và lửa quê tôi”, “Ngẫu hứng tâm linh” được giới chuyên môn đánh giá cao. Đặc biệt, tác phẩm “Giã gạo dưới trăng” từng giành Huy chương Vàng quốc tế và được Nhà hát Ca múa nhạc Dân gian Bulgari đưa vào biểu diễn.
Song song với sáng tác, ông dành nhiều thời gian cho nghiên cứu lý luận nghệ thuật múa. Dấu chân của ông trải dài từ Tây Bắc, Tây Nguyên đến Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long nhằm khảo sát, sưu tầm, nghiên cứu các loại hình múa dân gian của cộng đồng Tày, Thái, Dao, Mông, Chăm, Khmer, Mạ, Châu Ro, S'tiêng...
Từ những chuyến điền dã kéo dài hàng chục năm, ông biên soạn hơn 20 đầu sách chuyên khảo có giá trị như: “Đại cương nghệ thuật múa”, “100 điệu múa truyền thống Việt Nam”, “Nghệ thuật múa chèo”, “Nghệ thuật múa tín ngưỡng dân tộc Việt Nam”, “Nghệ thuật múa Chăm”, “Nghệ thuật múa tộc người Mạ”, “Nghệ thuật múa tộc người Châu Ro”, “Nghệ thuật múa tộc người S'tiêng”...
Sau khi nghỉ hưu năm 2000, GS. Lê Ngọc Canh tập trung nhiều hơn cho các công trình nghiên cứu về văn hóa và nghệ thuật múa Thăng Long - Hà Nội. Ông chủ trì nhiều đề tài nghiên cứu cấp thành phố, trong đó nổi bật là công trình “Nghiên cứu kế thừa và phát triển nghệ thuật múa Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội”, được nghiệm thu xuất sắc và đoạt giải A của Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam.
Cũng từ năm 2000, ông cùng các cộng sự triển khai Đề án “Nghiên cứu phục hồi múa cổ Thăng Long - Hà Nội”. Trong gần 2 thập kỷ, nhóm nghiên cứu đã đi tới nhiều làng quê ngoại thành Hà Nội, gặp gỡ các nghệ nhân cao tuổi, sưu tầm và phục dựng hàng chục điệu múa cổ có nguy cơ thất truyền.
Theo thống kê, hơn 50 điệu múa cổ đã được sưu tầm và phục dựng thành công, trong đó có múa Trống Bồng ở Triều Khúc, múa Rắn lột ở Việt Hưng, múa Xếp chữ ở Chử Xá, múa Giảo Long ở Lệ Mật hay các điệu múa trong Hội Gióng. Ông cho rằng những nghệ nhân am hiểu múa cổ ngày càng ít đi theo thời gian, vì vậy việc sưu tầm và phục dựng cần được thực hiện khẩn trương nhằm lưu giữ những giá trị văn hóa quý báu cho thế hệ sau.
Vị Giáo sư đầu tiên của nghệ thuật múa Việt Nam
Trong sự nghiệp của mình, GS.TS.NSND Lê Ngọc Canh từng giữ nhiều cương vị quan trọng như Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Dân gian, Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí Nhịp điệu.
Ông tham gia giảng dạy tại nhiều trường đại học và viện nghiên cứu, biên soạn 12 giáo trình chuyên ngành, hướng dẫn khoa học cho hàng chục nghiên cứu sinh và học viên cao học. Nhiều học trò của ông sau này trở thành các nghệ sĩ, nhà giáo, nhà quản lý văn hóa có uy tín: NSND Ấu Dũng, NSND Phạm Anh Phương, NSND Lê Ngọc Văn, NSND Nguyễn Văn Hiếu, NSND Vũ Việt Cường…
Năm 2014, ông được phong học hàm Giáo sư, trở thành Giáo sư đầu tiên của ngành múa Việt Nam.
3 năm sau, ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho cụm công trình nghiên cứu lý luận nghệ thuật múa. Trước đó, ông đã nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001.
Ngoài ra, ông còn được trao Huân chương Lao động hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, nhiều huân chương, huy chương chuyên ngành cùng danh hiệu Công dân Thủ đô ưu tú năm 2020.
Dù bước sang tuổi ngoài 80, GS.TS.NSND Lê Ngọc Canh vẫn tiếp tục nghiên cứu, viết sách và tham gia các dự án khoa học về nghệ thuật múa. Ông từng ấp ủ các công trình như “Từ điển nghệ thuật múa”, “Múa trong hội làng Thăng Long - Hà Nội” và tham gia biên soạn “Bách khoa thư Việt Nam”.
Điều khiến ông trăn trở nhất trong những năm cuối đời là việc tìm kiếm lớp kế cận cho lĩnh vực nghiên cứu lý luận, phê bình nghệ thuật múa - công việc đòi hỏi nhiều thời gian, tâm huyết nhưng ít người trẻ lựa chọn.
Ngày 10/3/2022, GS.TS.NSND Lê Ngọc Canh từ trần, hưởng thọ 90 tuổi.
Từ cậu bé liên lạc viên của Trung đoàn Thủ đô đến vị Giáo sư đầu tiên của ngành múa Việt Nam, cuộc đời ông là hành trình gắn bó với nghệ thuật, giáo dục và văn hóa dân tộc. Những công trình nghiên cứu, tác phẩm nghệ thuật và tâm huyết dành cho việc bảo tồn múa dân gian vẫn tiếp tục tạo ảnh hưởng đối với nhiều thế hệ nghệ sĩ, nhà nghiên cứu và người làm văn hóa hôm nay.

