Gia tộc 'vàng' của Việt Nam có tới 4 NSND và nhiều NSƯT: Cụ tổ là 'trùm chèo thế kỷ 20', con cháu đều là nghệ sĩ nổi tiếng, thành danh

Đời sống 30/05/2026 01:28

Đây được xem là một trong những gia tộc nghệ thuật hiếm hoi và danh giá bậc nhất Việt Nam.

Trong lịch sử nghệ thuật truyền thống Việt Nam, hiếm có dòng họ nào sở hữu bề dày thành tựu đáng nể như gia tộc Nguyễn Đình ở làng Thụy Lôi, Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Từ nhiều thế hệ nay, dòng họ này nổi tiếng khắp cả nước bởi truyền thống “cha truyền con nối” với hàng chục nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực chèo, cải lương, kịch nói. Đặc biệt, gia tộc hiện có 4 NSND cùng nhiều NSƯT, được xem là một trong những “gia tộc vàng” của sân khấu Việt Nam.

Người đặt nền móng cho truyền thống nghệ thuật gia đình 

Khởi nguồn cho truyền thống nghệ thuật ấy là cố soạn giả Nguyễn Đình Nghị, thường được giới sân khấu gọi bằng cái tên đầy kính trọng: “Trùm Nghị”; “Trùm chèo của thế kỷ 20”. 

gt10_1780042752.png
Nguyễn Đình Nghị là người đề xướng và thực hiện chèo cải lương - diễn chèo có sân khấu thay cho chiếu trời sân đình. Ảnh: Internet

Ông sinh năm 1883 tại làng Thụy Lôi - vùng đất giàu truyền thống diễn xướng dân gian và là một trong những trung tâm của chiếng chèo Đông Bắc Bộ. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Đình Nghị đã say mê chèo nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên không được học hành bài bản. Sau biến cố gia đình, ông mang theo vốn nghề ít ỏi lên Hà Nội lập nghiệp, vừa làm vừa học, từng bước tích lũy kinh nghiệm sân khấu.

Bằng nghị lực và niềm đam mê hiếm có, Nguyễn Đình Nghị đã đi qua nhiều loại hình biểu diễn từ chèo sân đình, chèo văn minh cho tới chèo cải lương, để rồi trở thành “ông trùm” của sân khấu chèo nửa đầu thế kỷ 20. Ông là người đề xướng và thực hiện “chèo cải lương” - hình thức đưa chèo từ sân đình lên sân khấu hộp hiện đại, thay đổi cách dàn dựng, biểu diễn nhằm phù hợp hơn với đời sống nghệ thuật đương thời.

Theo sách “Những người Việt Nam đi tiên phong”, từ năm 1924 đến 1944, Nguyễn Đình Nghị đã sáng tác và chỉnh biên hơn 60 vở chèo cải lương, góp phần làm sống lại nghệ thuật chèo trong bối cảnh sân khấu truyền thống đứng trước nguy cơ mai một. Nhiều tác phẩm mang tinh thần dân tộc và hơi thở thời cuộc rõ nét như “Một trận cười” (chèo), 1924; “Trận cười thứ hai” (chèo), 1924; “Trận cười thứ ba” (chèo), 1925; “Trận cười thứ tư” (chèo), 1925; “Thiên chúa giáng sinh” (chèo), 1926.

Ông từng cải tổ 2 rạp hát lớn ở Hà Nội là Sán Nhiên Đài và Cải lương hí viện theo mô hình chèo cải lương, đồng thời thành lập nhiều gánh hát nổi tiếng như Tự Lập ban, Nghị Lập ban, Đức Thịnh ban… đưa nghệ thuật chèo lưu diễn khắp Bắc - Trung - Nam và sang cả nước Lào.

Không chỉ là nghệ sĩ tài năng, Nguyễn Đình Nghị còn là người yêu nước sâu sắc. Nhiều tác phẩm của ông phảng phất tinh thần dân tộc, khơi dậy lòng tự hào của quần chúng. Năm 1931, khi biểu diễn vở “Kêu rằng mình oan” tại Hà Nội với câu thoại nổi tiếng: “Hỡi ai con Lạc cháu Hồng - đứng lên đòi lại non sông của mình”, ông từng bị thực dân Pháp bắt giam gần 2 tháng.

gt6_1780042755.png
NSND Tuấn Hải đứng bên bia mộ soạn giả Nguyễn Đình Nghị. Ảnh: FBNV

Giới nghiên cứu sân khấu đánh giá Nguyễn Đình Nghị là một trong những người có công lớn nhất với nghệ thuật chèo Việt Nam. Ông được xem như “chiếc cầu nối” giữa chèo cổ và chèo hiện đại, người chèo lái sân khấu chèo vượt qua giai đoạn khó khăn nhất để bước sang một thời kỳ phát triển mới.

Từ nền móng của “Trùm Nghị”, nhiều thế hệ con cháu trong dòng họ Nguyễn Đình tiếp tục nối nghiệp, tạo nên một gia tộc nghệ thuật hiếm có ở Việt Nam. Nổi bật nhất là 4 NSND gồm: Nguyễn Đình Tưởng (nghệ danh Mạnh Tưởng), Nguyễn Đình Chí (nghệ danh Quang Chí), Trần Thị Mai Hương và Trần Tuấn Hải.

Gia đình nhiều thế hệ gắn bó với sân khấu

Trong số các hậu duệ nổi bật của soạn giả Nguyễn Đình Nghị, cháu nội - NSND Mạnh Tưởng (tên thật Nguyễn Đình Tưởng, 92 tuổi) là gương mặt tiêu biểu của sân khấu cải lương miền Bắc. Ông từng giữ cương vị Trưởng đoàn Cải lương Hoa Mai.

gt7_1780042754.png
NSND Nguyễn Đình Tưởng. Ảnh: Vietnamnet

NSND Mạnh Tưởng được đánh giá là nghệ sĩ đa tài khi hoạt động ở nhiều vai trò như diễn viên, ca sĩ, đạo diễn và chuyển thể cải lương. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, giọng hát của ông nhiều lần được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, góp phần cổ vũ tinh thần quân dân cả nước qua các ca khúc như “Võ Thị Thắng”, “Cây sáo trúc”, “Hoa tím chiều thu”, “Hạt lúa quê mình”…

Trong sự nghiệp sân khấu, ông giành Huy chương Vàng tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp năm 1970 với vở “Tình yêu và tội phạm” và năm 1990 với vở “Ông Thánh sinh đôi”. Ở cả 2 tác phẩm, ông vừa tham gia biểu diễn vừa đảm nhận vai trò đạo diễn.

Sau thời gian công tác biểu diễn, NSND Mạnh Tưởng còn tham gia giảng dạy tại khoa Kịch hát Dân tộc, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội. Nghỉ hưu từ năm 1996, ông vẫn tiếp tục hoạt động nghệ thuật dưới nhiều hình thức khác nhau.

gt3_1780042756.png
NSND Mạnh Tưởng cùng vợ tại khu lăng mộ cụ Nguyễn Đình Nghị. Ảnh: GĐCC/Dân Việt

Em ruột của NSND Mạnh Tưởng là NSND Quang Chí (tên thật Nguyễn Đình Chí), nguyên Trưởng đoàn Cải lương Nam Định. Ông gia nhập Đoàn Cải lương An Lạc từ năm 14 tuổi và nhanh chóng gây chú ý bởi giọng ca mùi mẫn, khả năng diễn xuất nội tâm cùng phong cách biểu diễn đĩnh đạc.

Trong hơn nửa thế kỷ hoạt động nghệ thuật, NSND Quang Chí ghi dấu với hàng loạt vai diễn nổi tiếng như Giáo sư Lân trong “Cánh cửa hy vọng”, Giáo sư Hoàng trong “Hoa đời chớm nở”, Trần Hưng Đạo trong “Đức Thánh Trần”, Trần Thủ Độ trong “Tình sử vương triều”…

gt8_1780042754.png
NSND Quang Chí. Ảnh: Ngọc Hà Đỗ

Đỉnh cao sự nghiệp của ông là vai Giám đốc Nghĩa trong vở “Xin đừng lầm lỡ” tại Hội diễn miền Duyên hải năm 1994 ở Thái Bình cũ (nay thuộc Hưng Yên). Vai diễn này giúp ông giành đồng thời Huy chương Vàng cho vai chính và giải Nam nghệ sĩ xuất sắc nhất.

Năm 1997, NSND Quang Chí giữ cương vị Trưởng đoàn Cải lương Nam Định. Đến năm 2012, ông được phong tặng danh hiệu NSND và trở thành nghệ sĩ đầu tiên của tỉnh Nam Định cũ (nay thuộc Ninh Bình) nhận danh hiệu này.

gt5_1780042755.png
Vợ chồng NSND Quang Chí. Ảnh: GĐCC/Dân Việt

Nếu Mạnh Tưởng và Quang Chí là đại diện tiêu biểu của cải lương miền Bắc thì NSND Trần Mai Hương lại là gương mặt nổi bật của sân khấu chèo hiện đại. Bà từng giữ chức Phó Giám đốc Nhà hát Chèo Hà Nội và gọi NSND Mạnh Tưởng, NSND Quang Chí là cậu ruột.

Suốt hơn 40 năm hoạt động nghệ thuật, Mai Hương ghi dấu với nhiều vai diễn kinh điển như Ni cô Đàm Vân trong “Ni cô Đàm Vân”, cô Son trong “Cô Son”, Hoàng hậu Thượng Dương trong “Thái úy Lý Thường Kiệt”, Ngọc Dung trong “Đêm hội Long trì”…

Điều đặc biệt trong sự nghiệp của NSND Mai Hương là bà gần như chưa từng trải qua vai phụ mà đã được giao vai chính ngay từ đầu. Sau khi tốt nghiệp Khoa Chèo của Trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam, bà đảm nhận ngay vai Ni cô Đàm Vân lúc mới 20 tuổi. 

Không chỉ thành công với dạng vai đào thương, nữ nghệ sĩ còn chinh phục cả những vai phản diện, đào lệch đầy gai góc. Vai Hoàng hậu Thượng Dương từng giúp bà giành Huy chương Vàng tại Hội diễn Sân khấu Chèo toàn quốc.

Dù từng đảm nhiệm vị trí lãnh đạo nhà hát, NSND Mai Hương vẫn luôn sẵn sàng lên sân khấu “thế vai” khi cần thiết. Với bà, niềm đam mê dành cho nghệ thuật chèo truyền thống chưa bao giờ vơi cạn.

gt9_1780042753.png
NSND Mai Hương. Ảnh: FBNV

Song song với chèo và cải lương, gia tộc Nguyễn Đình còn có dấu ấn đậm nét ở lĩnh vực kịch nói với NSND Tuấn Hải - em ruột của NSND Mai Hương. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sân khấu - Điện ảnh, ông đầu quân về Đoàn Kịch nói Công an Hà Nội và mang quân hàm Đại úy.

Trong vai trò diễn viên, Tuấn Hải ghi dấu qua hàng loạt nhân vật như Quang “bụi đời” trong “Hương gai”, Ngọc “công tử bột” trong “Thủ phạm là ai”, Tuấn “rỗi hơi” trong “Kẻ rỗi hơi”, Lâm trong “Sống ngoài tiêu chuẩn”… Năm 1990, ông chuyển về Đoàn Kịch Hà Nội, sau đó gắn bó lâu dài với Nhà hát Kịch Việt Nam từ năm 1994. Đây được xem là giai đoạn hoạt động nghệ thuật sung sức và tâm huyết nhất của ông.

NSND Tuấn Hải được đánh giá là nghệ sĩ có khả năng hóa thân đa dạng hiếm thấy. Ông có thể diễn cả vai bi lẫn hài, từ chính diện đến phản diện, từ người già đến trẻ nhỏ, thậm chí đảm nhận cả vai nữ trên sân khấu. 

Không chỉ thành công với diễn xuất, Tuấn Hải còn ghi dấu ấn trong vai trò đạo diễn qua nhiều tác phẩm nổi tiếng như “Bản danh sách điệp viên”, “Giấc mộng đêm hè”, “Vàng một bên em một bên”, “Vợ chồng rởm”, “Bệnh sĩ”…

gt4_1780042756.png
NSND Mai Hương và NSND Tuấn Hải. Ảnh: FBNV
gt1_1780042757.png
NSND Tuấn Hải trước lăng mộ cụ Nguyễn Đình Nghị. Ảnh: NVCC/Dân Việt

Theo Dân Việt, chia sẻ về truyền thống gia đình, NSND Tuấn Hải từng cho biết ông thuộc đời thứ tư của dòng họ Nguyễn Đình theo nghiệp sân khấu. 

“Ngày xưa, cả gia đình bên ngoại nhà tôi theo gánh hát. Các cụ mấy đời đều gắn bó với nghiệp diễn. Nhờ được sinh ra và dưỡng nuôi trong gia tộc có truyền thống nghệ thuật nên chị em tôi đam mê rồi gắn trọn cuộc đời với sân khấu. Tôi là đời thứ tư trong dòng họ Nguyễn Đình, kế tục cụ tổ Nguyễn Đình Nghị giữ ngọn lửa nghệ thuật. Lớn lên ở Hà Nội nhưng tôi luôn biết ơn mảnh đất Hưng Yên - cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn nghệ thuật của bao thế hệ trong dòng họ.

Tôi luôn biết ơn Tổ nghiệp, các cụ, ông bà và bố mẹ đã cho chúng tôi bén duyên với nghiệp diễn từ khi còn bé và được đóng góp chút sức lực nhỏ bé cho nghiệp diễn. Đến nay, gia tộc của chúng tôi có 4 NSND và rất nhiều NSƯT”, Tuấn Hải cho biết.

gt2_1780042757.png
Các cháu, chắt của soạn giả Nguyễn Đình Nghị chụp ảnh tại con đường mang tên của cụ tổ. Ảnh: NVCC/Dân Việt

Từ một gia đình ở làng Thụy Lôi, nhiều thế hệ nghệ sĩ của dòng họ Nguyễn Đình đã góp phần tạo dấu ấn trong các lĩnh vực chèo, cải lương, kịch nói và nghệ thuật truyền thống.

Trong bối cảnh sân khấu truyền thống đối mặt với nhiều thách thức về khán giả và lực lượng kế cận, sự hiện diện bền bỉ của nhiều thế hệ nghệ sĩ trong gia đình Nguyễn Đình được xem là trường hợp đặc biệt của đời sống văn hóa Việt Nam.

* Tổng hợp

Anh Khôi
Tin đáng đọc