'Bà tổ' đầu tiên của cải lương Việt Nam được phong danh hiệu NSND: Từng kết hôn với đại gia giàu bậc nhất miền Nam, qua đời trong cô độc ở tuổi 99
Trái ngược hoàn toàn với ánh hào quang rực rỡ trên sân khấu, cuộc đời tư của bà lại đầy rẫy những nỗi đau và mất mát.
NSND Phùng Há tên thật Trương Phụng Hảo, sinh ngày 30/4/1911 tại làng Điều Hòa, Tiền Giang cũ (nay thuộc Đồng Tháp). Bà được giới nghiên cứu nhìn nhận là một trong những “vị tổ” của nghệ thuật cải lương Việt Nam.
Trong suốt 86 năm theo nghề, bà hoạt động ở nhiều vai trò: Diễn viên, trưởng đoàn, giảng viên và nhà tổ chức sân khấu, để lại dấu ấn sâu rộng trong đời sống nghệ thuật Nam Bộ.
“Bà tổ” cải lương duy nhất được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân đợt đầu tiên
Sinh ra trong gia đình nghèo, đông anh em, là con thứ 6, Phùng Há sớm bộc lộ năng khiếu ca hát, diễn xuất dù không qua đào tạo bài bản. Năm 9 tuổi, cha qua đời, gia đình lâm vào khó khăn, bà phải nghỉ học để mưu sinh. Đến năm 13 tuổi, bà làm công trong lò gạch. Chính trong hoàn cảnh này, giọng ca thiên phú của bà lọt vào tai ông bầu Hai Cu của gánh Nam Đồng Ban cũ, mở ra bước ngoặt quan trọng trên con đường nghệ thuật.
Năm 1924, khi ông bầu Hai Cu thành lập gánh Tái Đồng Ban, Phùng Há được mời tham gia với vai trò đào chính, diễn cặp cùng nghệ sĩ Năm Châu. Đây cũng là thời điểm bà chính thức sử dụng nghệ danh Phùng Há. Những người thầy đầu tiên của bà gồm soạn giả Nguyễn Công Mạnh, nghệ sĩ Năm Châu và nhạc sĩ Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung), đặt nền tảng cho kỹ thuật ca diễn và tư duy nghề nghiệp.
Vai diễn đầu tiên đánh dấu sự nghiệp của Phùng Há là Giả Thị trong vở “Hoàng Phi Hổ quy Châu” của Nguyễn Công Mạnh. Sau đó, bà tiếp tục tham gia các vở “Thôi Tử thí Tề Quân”, “Mổ tim Tỷ Can”, “Anh hùng náo Tam Môn Nhai” (Nguyễn Châu Thành), “Khúc oan vô lượng”, “Tội của ai” (Tư Chơi)…
Trong giai đoạn này, bà diễn cặp với nghệ sĩ Năm Châu và nhanh chóng được công chúng mến mộ. Trước đó, bà chủ yếu biểu diễn theo phong cách tuồng Trung Hoa chịu ảnh hưởng Quảng Đông. Quá trình hợp tác với Năm Châu giúp bà tiếp cận các vở tuồng xã hội, kịch phóng tác phương Tây, từ đó hình thành quan niệm về trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ, vượt ra ngoài mục đích giải trí đơn thuần.
Năm 1926, bà cùng các nghệ sĩ Năm Châu, Tư Chơi, Ba Du gia nhập gánh Trần Đắc của ông bầu Trần Đắc Nghĩa. Sau một thời gian, khi mới 18 tuổi, Phùng Há đã lập gánh hát riêng, tổ chức lưu diễn rộng khắp, góp phần đưa cải lương đến nhiều vùng miền trong nước và ra nước ngoài như Pháp, Hồng Kông, Campuchia.
Trong suốt sự nghiệp biểu diễn, Phùng Há đảm nhận nhiều dạng vai từ bi, hài đến kép võ, thể hiện cả vai nữ lẫn vai nam. Các vở diễn tiêu biểu gồm “Tái sanh duyên”, “Mổ tim Tỷ Cang”, “Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga”, “Phụng Nghi Đình”, “Tình sử Dương Quý Phi”, “Đời cô Lựu”, “Tô Ánh Nguyệt”, “Mạnh Lệ Quân”… Trong đó, vai Lữ Bố trong “Phụng Nghi Đình” được xem là một trong những hình tượng đặc sắc, để lại ấn tượng sâu đậm với khán giả. Bà cũng từng thể hiện nhiều nhân vật khác như Mộng Hoa Vương, An Lộc Sơn, Đường Minh Hoàng, Thu Hồ, Trạng sư, Lựu… cho thấy khả năng hóa thân đa dạng và vốn nghề phong phú.
Song song với biểu diễn, Phùng Há tham gia công tác đào tạo từ sớm. Từ năm 1963, bà giảng dạy tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, sau đó tiếp tục giảng dạy tại các cơ sở đào tạo như Trường Nghệ thuật Sân khấu II, các lớp đào tạo của Nhà hát Trần Hữu Trang. Bà trực tiếp truyền nghề cho nhiều thế hệ nghệ sĩ như Thanh Nga, NSND Bạch Tuyết, Thanh Sang, Thanh Thanh Hoa, Ngọc Giàu, Vũ Linh, Thoại Mỹ, NSƯT Kim Tử Long, NSƯT Diệu Hiền… Phần lớn học trò của bà đều trưởng thành, được công chúng ghi nhận và nhiều người đạt danh hiệu cao quý.
Năm 1984, Phùng Há là nữ nghệ sĩ cải lương duy nhất được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân trong đợt xét tặng đầu tiên. Sự ghi nhận này phản ánh những đóng góp toàn diện của bà đối với sân khấu cải lương, từ biểu diễn, đào tạo đến tổ chức nghề nghiệp.
Với hành trình dài từ một cô gái nghèo phải mưu sinh sớm đến vị trí nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn, NSND Phùng Há được xem là biểu tượng tiêu biểu của cải lương Nam Bộ. Di sản mà bà để lại tiếp tục được kế thừa qua nhiều thế hệ, góp phần định hình diện mạo sân khấu truyền thống Việt Nam.
Đường tình duyên nhiều đắng cay và nước mắt
Trái ngược hoàn toàn với ánh hào quang rực rỡ trên sân khấu, cuộc đời tư của NSND Phùng Há lại đầy rẫy những nỗi đau và mất mát.
Năm 1926, khi gia nhập gánh Trần Đắc cùng các nghệ sĩ Năm Châu, Tư Chơi, Ba Du, Phùng Há kết hôn với nhạc sĩ Tư Chơi. Hai người có một con gái là Bửu Trân (1926-1959). Cuộc hôn nhân này kéo dài khoảng 2 năm. Sau khi chia tay, trong điều kiện lưu diễn liên tục, bà phải gửi con cho người thân chăm sóc, đến khi con khoảng 10 tuổi mới có điều kiện đoàn tụ.
Năm 1929, Phùng Há kết hôn với Lê Công Phước - con trai Đốc phủ sứ Lê Công Sủng, được biết đến với biệt danh “Bạch công tử” ở Nam Kỳ. Nhiều giai thoại kể lại, Lê Công Phước thường xuyên ở tại những khách sạn đắt đỏ nhất kinh đô ánh sáng. Từ ăn đến mặc, ông đều sử dụng những thứ sành điệu nhất, đẳng cấp nhất. Vây quanh ông là những bóng hồng trong những bữa tiệc xa xỉ tại những hộp đêm.
Phong lưu đa tình là vậy nhưng Bạch công tử nhanh chóng trúng “tiếng sét ái tình” từ cô đào Phùng Há. Thời điểm này, ông Phước là một trong những người tổ chức gánh hát lớn, đồng sáng lập đoàn Phước Cương, sau đó lập gánh Huỳnh Kỳ và giao cho Phùng Há quản lý khi bà còn rất trẻ.
Gánh Huỳnh Kỳ nhanh chóng nổi tiếng nhờ quy mô tổ chức lớn, quy tụ nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Phùng Há, Ba Vân, Năm Phỉ, Tám Du, Năm Thiên, Ba Đồng, Chín Móm… Đoàn có phương tiện lưu diễn riêng, tổ chức sinh hoạt và biểu diễn bài bản tại các địa phương, góp phần đưa cải lương phát triển mạnh ở khu vực Nam Bộ.
Phùng Há và Lê Công Phước có 2 người con: 1 trai và 1 gái. Tuy nhiên, sự quan tâm của Bạch công tử dành cho gánh hát chỉ kéo dài 7 năm. Sau đó, ông lại lao vào các cuộc chơi. Nghệ sĩ Phùng Há vừa vật lộn chăm sóc 2 con, vừa chăm lo gánh hát. Trong một lần con ốm, nghệ sĩ Phùng Há bế con đi tìm chồng. Bà bắt gặp ông đang say sưa với một cô gái đẹp. Thấy vợ con, Bạch công tử còn quát mắng, đuổi về. Giọt nước tràn ly khiến Phùng Há quyết định ly hôn. 2 người con của bà sau đó lần lượt qua đời vì ốm đau, bệnh tật.
Còn Bạch công tử sau khi chia tay nghệ sĩ Phùng Há càng lún sâu vào nghiệp ngập. Tài sản trong nhà lần lượt đội nón ra đi. Về già, ông lang thang ở TP. HCM. Mặc cho cơn nghiện và đói khát hành hạ, ông không bao giờ ngửa tay xin tiền bởi trước đó, khi còn giàu sang, phú quý, ông từng tuyên bố sẽ không bao giờ nhờ vả người khác. Sau này, Bạch công tử được một người thân đưa về chăm sóc. Ông qua đời vào năm 1950.
Năm 1940, sau khi kết thúc cuộc hôn nhân thứ 2, Phùng Há kết hôn với Nguyễn Hữu Bửu - người thành lập gánh hát Phùng Hảo để bà quản lý. Sau khi gánh hát Phùng Hảo tan rã, cuộc hôn nhân thứ 3 của bà cũng kết thúc.
Về sau, Phùng Há kết hôn với Châu Văn Sáu (còn gọi là Bầu Nhơn), nhưng cuộc hôn nhân cuối cùng này cũng chấm dứt sau năm 1959.
Nỗi đau mất mát người thân khiến tuổi xế chiều của nữ nghệ sĩ trở nên cô độc. Khi không còn con cái để nương tựa, bà dành phần lớn thời gian và tâm sức cho các hoạt động thiện nguyện, đặc biệt là việc chăm lo cho đời sống của những nghệ sĩ nghèo và neo đơn.
Trước năm 1975, bà giữ vai trò Hội trưởng Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế, tiền thân của Ban Ái hữu nghệ sĩ thuộc Hội Sân khấu TP. HCM. Sau đó, bà tiếp tục tham gia công tác chuyên môn, làm cố vấn cho Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang.
Bên cạnh đó, bà còn là người đề xuất mua đất, xây dựng chùa Nghệ Sĩ tại TP. HCM để làm nơi yên nghỉ cho các nghệ sĩ cải lương. Bà cũng tự xuất tiền để làm bia mộ cho các nghệ sĩ lão thành, lập nên viện dưỡng lão nghệ sĩ, cấp dưỡng cho nghệ sĩ nghèo, neo đơn.
Ngày 5/7/2009, NSND Phùng Há trút hơi thở cuối cùng ở TP. HCM, hưởng thọ 99 tuổi tại bệnh viện Nguyễn Trãi. Bà được an táng trong nghĩa trang nghệ sĩ do bà lập nên trong phần đất của chùa Nghệ Sĩ. Sự ra đi của NSND Phùng Há để lại nhiều thương tiếc cho người thân, khán giả, đồng nghiệp.



