Anh hùng LLVTND quê Hưng Yên là Trung tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh truy tặng huân chương cao quý
Hiện tại, tên ông được đặt cho nhiều tuyến đường tại TP.HCM, Hải Phòng, Cần Thơ cùng nhiều địa phương trên cả nước.
Kiên định với lý tưởng, tận hiến cho cách mạng
Trung tướng Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo. Ông sinh ngày 30/07/1908 tại thôn Yên Phú, xã Tịnh Tiến, huyện Yên Mỹ cũ, tỉnh Hưng Yên.
Cuộc đời ông gắn liền với những chặng đường đầy gian khó của dân tộc, từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, trải qua lao tù khắc nghiệt, đến những chiến công vang dội trong Cách mạng Tháng Tám và những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Từ thuở thiếu thời, đồng chí Nguyễn Phương Thảo đã sớm tiếp xúc với tư tưởng yêu nước. Trong thời gian học tập tại Hải Phòng, ông chịu ảnh hưởng lớn từ anh trai là Nguyễn Thế Nức - người sáng lập Hội Trí Tri và Hội Dục Anh, đồng thời có cơ hội gặp gỡ nhiều trí thức yêu nước đương thời.
Năm 1925, khi mới 17 tuổi, ông bị đuổi học vì tham gia vận động học sinh Trường Kỹ nghệ Hải Phòng bãi khóa để hưởng ứng lễ truy điệu nhà chí sĩ Phan Chu Trinh và phản đối chính sách cai trị hà khắc của thực dân Pháp. Sau đó, ông làm thủy thủ trên tuyến tàu viễn dương Sài Gòn - Marseille trước khi trở về sinh sống tại Khánh Hội rồi mở tiệm giặt ủi ở Đa Kao (Gia Định).
Chính tại đây, đồng chí Nguyễn Phương Thảo kết thân với Trần Huy Liệu, gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng năm 1928 và nhanh chóng được bầu vào Ban Chấp hành Xứ bộ. Tuy nhiên, bước ngoặt lớn trong cuộc đời ông đến sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái.
Năm 1930, ông cùng Trần Huy Liệu bị thực dân Pháp bắt giữ, bị Tòa đại hình Sài Gòn tuyên phạt 6 năm tù và đày ra Côn Đảo. Những năm tháng trong nhà tù khét tiếng đã trở thành dấu mốc quan trọng, khi ông được tiếp xúc với nhiều chiến sĩ cộng sản như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt... Từ đó, ông dần giác ngộ lý tưởng cách mạng.
Sự chuyển biến về tư tưởng khiến đồng chí Nguyễn Phương Thảo và Trần Huy Liệu bị nhóm cực hữu trong Việt Nam Quốc dân đảng kết án tử hình. Dù may mắn thoát chết, ông bị đâm hỏng mắt trái, mang thương tật suốt quãng đời còn lại.
Sau khi mãn hạn tù năm 1935, ông bị thực dân Pháp quản chế tại Hải Phòng. Cũng trong thời gian này, ông đổi tên thành Nguyễn Bình với khát vọng "bình thiên hạ", đồng thời tuyên bố ly khai Việt Nam Quốc dân đảng để tiếp tục hoạt động cách mạng. Ông nhiều lần bị bắt khi tham gia phong trào bình dân tại Thái Nguyên, Hưng Yên và đến năm 1942 đã vượt ngục thành công, gặp lại đồng chí Hoàng Quốc Việt rồi được phân công lên Lai Châu hoạt động.
Từ năm 1944, đồng chí Nguyễn Bình trở về hoạt động tại Hà Nội, Hải Phòng và mở rộng phong trào sang Hưng Yên, Đông Triều, Quảng Yên, Hòn Gai. Ông tích cực xây dựng cơ sở Việt Minh, tìm mua vũ khí, vận động binh sĩ Nhật ngả theo cách mạng. Công tác binh vận cùng hoạt động thu mua vũ khí của ông được Xứ ủy Bắc Kỳ đánh giá rất cao, góp phần quan trọng chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa.
Khi Nhật đảo chính Pháp vào tháng 3/1945, đồng chí Nguyễn Bình trực tiếp chỉ huy lực lượng du kích đánh chiếm đồn Bần Yên Nhân, bắt gọn một trung đội địch và thu toàn bộ vũ khí. Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá đây là "trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ".
Không dừng lại ở đó, ông cùng đồng chí Nguyễn Văn Tuệ xây dựng Chiến khu Đông Triều. Ngày 08/06/1945, đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy lực lượng đánh chiếm các đồn Tràng Bạch, Mạo Khê, Đông Triều, giải tán chính quyền tay sai, vận động binh lính theo cách mạng và mở kho thóc Nhật cứu đói cho nhân dân.
Cũng trong ngày này, Chiến khu Đông Triều chính thức được thành lập với Ủy ban Quân sự Cách mạng gồm đồng chí Nguyễn Bình, Trần Cung, Nguyễn Hiển và Hải Thanh. Dù được giao phụ trách kinh tế, ông vẫn trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh mở rộng chiến khu.
Ngày 20/07/1945, đồng chí Nguyễn Bình tiếp tục chỉ huy lực lượng hỗ trợ quần chúng giành chính quyền tại tỉnh lỵ Quảng Yên, đưa địa phương này trở thành tỉnh duy nhất được giải phóng trước Cách mạng Tháng Tám. Trong những ngày Tổng khởi nghĩa, ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền tại Hải Phòng, Đồ Sơn, Kiến An, Hải Dương và giữ cương vị Tư lệnh Chiến khu Đông Triều thuộc Ủy ban Quân sự liên tỉnh miền Duyên hải Đông Bắc.
Nhận nhiều huân chương, danh hiệu vẻ vang
Sau khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ, tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tin tưởng giao đồng chí Nguyễn Bình vào Nam chỉ huy cuộc kháng chiến. Người căn dặn ông phải nhanh chóng hợp nhất các lực lượng vũ trang, chấm dứt tình trạng phân tán, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết.
Ngay khi có mặt tại Nam Bộ, ngày 22/10/1945, đồng chí Nguyễn Bình ban hành Thông cáo số 1, kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng chiến, thực hiện chủ trương "vườn không nhà trống". Đến ngày 20/11/1945, với cương vị Phái viên Chính phủ Trung ương, ông triệu tập hội nghị các chỉ huy lực lượng vũ trang tại An Phú Xã, thống nhất tổ chức thành các chi đội và được bầu làm Tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ. Đây được xem là bước ngoặt quan trọng trong việc thống nhất lực lượng kháng chiến ở miền Nam.
Song song với nhiệm vụ chiến đấu, đồng chí Nguyễn Bình đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ và xây dựng lực lượng. Ngày 12/12/1945, ông thành lập Trường Quân chính Miền Đông và trực tiếp giữ cương vị Hiệu trưởng đầu tiên. Qua 2 khóa học mang tên Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, nhà trường đã đào tạo hơn 100 cán bộ chỉ huy cho chiến trường Đông Nam Bộ.
Ngày 06/01/1946, ông tiếp tục thành lập Ban Công tác thành nhằm thống nhất các lực lượng vũ trang hoạt động trong nội thành Sài Gòn, vừa chiến đấu vừa vận động quần chúng. Đây chính là tiền thân của lực lượng Biệt động Sài Gòn sau này.
Tháng 06/1946, đồng chí Nguyễn Bình được Trung ương Đảng phê chuẩn kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Với phong cách gần gũi, thẳng thắn và bản lĩnh, ông nhiều lần trực tiếp vào nội thành Sài Gòn gặp gỡ giới trí thức, vận động nhân dân tham gia kháng chiến.
Ngày 20/01/1948, Nhà nước phong quân hàm Trung tướng cho đồng chí Nguyễn Bình. Ông trở thành vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cùng năm, ông giữ cương vị Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ, đồng thời là Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ và Ủy viên Quân sự Nam Bộ.
Tháng 10/1950, Trung tướng Nguyễn Bình chỉ huy Chiến dịch Bến Cát diễn ra từ ngày 07/10 đến 15/11/1950. Đây là chiến dịch quy mô đầu tiên và cũng là duy nhất ở miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tiêu diệt 509 tên địch, bắt 120 tên và thu nhiều vũ khí.
Năm 1951, khi được Trung ương triệu tập ra Bắc báo cáo tình hình chiến trường Nam Bộ, trên đường di chuyển, Trung tướng Nguyễn Bình bị địch phục kích và hy sinh ngày 29/09/1951 tại Ratanakiri (Campuchia), khép lại cuộc đời 43 năm đầy cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Ghi nhận những cống hiến to lớn của Trung tướng Nguyễn Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký quyết định truy tặng ông Huân chương Quân công hạng Nhất vì những đóng góp trong sự nghiệp khởi nghĩa giành chính quyền, xây dựng Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất Nam Bộ. Ông cũng được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Năm 2000, hài cốt của ông được đưa về Tổ quốc và an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ TP.HCM.
Hơn 7 thập kỷ sau ngày hy sinh, tên tuổi Trung tướng Nguyễn Bình vẫn được trân trọng khắc ghi trong lịch sử dân tộc. Tên ông được đặt cho nhiều tuyến đường tại TP.HCM, Hải Phòng, Cần Thơ cùng nhiều địa phương trên cả nước, như một sự tri ân đối với người chiến sĩ cách mạng kiên trung, vị tướng tài năng đã dành trọn cuộc đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Bài viết sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Trung tướng Nguyễn Bình: Một thủ lĩnh đặc biệt - Báo QĐND
- Đồng chí Nguyễn Bình - Trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam - Cổng TTĐT Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
- Trung tướng Nguyễn Bình - Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam - Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng



