Thịt lợn nhập khẩu vào Việt Nam tăng mạnh giá bình quân giảm gần 36%
8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu hơn 124.000 tấn thịt lợn tươi, ướp lạnh và đông lạnh, tăng 18,8% về lượng so với cùng kỳ. Đáng chú ý, giá nhập khẩu bình quân chỉ còn khoảng 45.000 đồng/kg, giảm tới 35,9%, trong khi tổng lượng thịt và sản phẩm từ thịt nhập khẩu tiếp tục tăng.
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), dẫn số liệu từ Cục Hải quan, trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 658.700 tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 1,91 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng nhập khẩu tăng 5,6%, trong khi kim ngạch tăng 26,3%. Ấn Độ tiếp tục là nguồn cung thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 20,39% tổng lượng nhập khẩu. Trong 8 tháng, Việt Nam nhập từ thị trường này khoảng 134.200 tấn, trị giá 580,8 triệu USD, tăng 17% về lượng và 43,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Ngoài Ấn Độ, lượng thịt và sản phẩm từ thịt nhập khẩu từ Mỹ, Brazil, Tây Ban Nha, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, New Zealand và Slovenia cũng tăng cả về lượng và trị giá. Ở chiều ngược lại, nhập khẩu từ Nga, Canada, Hàn Quốc, Ba Lan, Hà Lan, Italy, Iran, Hong Kong (Trung Quốc) và Algeria giảm so với cùng kỳ.
Xét theo chủng loại, thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lượng thịt nhập khẩu, đạt 36,33%. Tiếp đến là thịt trâu tươi, đông lạnh với 18,9% và thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh với 18,85%. Đáng chú ý nhất là diễn biến của thịt lợn nhập khẩu. Trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam nhập 124.100 tấn thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, trị giá 212,64 triệu USD. Lượng nhập khẩu tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2025, nhưng trị giá lại giảm 23,8%.
Giá nhập khẩu bình quân thịt lợn đạt khoảng 1.712 USD/tấn, tương đương 1,712 USD/kg, tức khoảng 45.368 đồng/kg. Mức giá này thấp hơn 35,9% so với cùng kỳ năm trước. Brazil hiện là nguồn cung thịt lợn lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 45,1% tổng lượng nhập khẩu. Nga đứng thứ hai với 21,24%, tiếp theo là Tây Ban Nha với 19,87% và Đức với 4,58%.
Diễn biến nhập khẩu cho thấy thị trường thịt Việt Nam đang có sự gia tăng đáng kể về nguồn cung từ bên ngoài, trong đó thịt lợn nhập khẩu vừa tăng về lượng vừa có mức giá bình quân thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam tiếp tục khiêm tốn. Trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 12.400 tấn, trị giá 81,78 triệu USD, giảm 16,4% về lượng nhưng tăng 4,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Các sản phẩm thịt của Việt Nam đã được xuất khẩu tới 29 thị trường. Hong Kong (Trung Quốc) tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 31,99% tổng lượng và 41,54% tổng trị giá xuất khẩu. Việt Nam xuất sang thị trường này khoảng 3.900 tấn thịt và sản phẩm từ thịt, trị giá 33,97 triệu USD.
Tuy nhiên, xuất khẩu sang Hong Kong (Trung Quốc) giảm mạnh 41,9% về lượng và 27,4% về trị giá so với cùng kỳ. Thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh vẫn là những sản phẩm chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường này.
Xét theo chủng loại, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 34,3% tổng lượng và 44,2% tổng trị giá xuất khẩu thịt của Việt Nam. Trong 8 tháng, xuất khẩu nhóm hàng này đạt khoảng 4.200 tấn, trị giá 36,15 triệu USD, giảm 23% về lượng và 15,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Hong Kong tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ yếu của thịt lợn Việt Nam. Trong khi đó, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt sang Bỉ, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc và Malaysia giảm so với cùng kỳ. Ngược lại, một số thị trường ghi nhận tốc độ tăng trưởng tích cực, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc, Pháp, Singapore, Mỹ, Campuchia, Hà Lan và Đức đều tăng cả về lượng và trị giá.
Trong bối cảnh nguồn cung thịt nhập khẩu gia tăng, đặc biệt là thịt lợn có giá nhập khẩu giảm mạnh, thị trường trong nước được bổ sung thêm nguồn hàng với mức giá cạnh tranh. Đây vừa là yếu tố tạo thêm lựa chọn cho người tiêu dùng và doanh nghiệp chế biến, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh về chất lượng, chi phí và chuỗi cung ứng đối với ngành chăn nuôi trong nước.