Xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 56,3 tỷ USD sau 9 tháng
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Rau quả, thủy sản, hạt tiêu tiếp tục tăng trưởng tích cực, trong khi cà phê, cao su và gạo chịu áp lực giảm về giá trị xuất khẩu.
Xuất khẩu nông lâm thủy sản duy trì đà tăng trưởng
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tốc độ tăng trưởng GDP quý III/2026 của toàn ngành ước đạt 4,1-4,2%. Kết quả giải ngân vốn đầu tư công đạt trên 60%, trong khi sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực.
Về kết quả xuất khẩu nông lâm thủy sản, tháng 9/2026 ước đạt 6,51 tỷ USD, tăng 5,7%. Lũy kế 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, nông sản đạt 29,28 tỷ USD, tăng 3,1%; sản phẩm chăn nuôi đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6%; thủy sản đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%; lâm sản đạt gần 14,41 tỷ USD, tăng 7,6%. Đáng chú ý, xuất khẩu đầu vào phục vụ sản xuất đạt 2,86 tỷ USD, tăng 58,2%, trong khi xuất khẩu muối đạt 11,3 triệu USD, tăng 35,1%.
Xét theo khu vực, châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông lâm thủy sản chính của Việt Nam, chiếm 49,4% thị phần. Tiếp theo là châu Mỹ với 22,2% và châu Âu với 13,5%. Châu Phi và châu Đại Dương lần lượt chiếm 2,3% và 1,5%.
So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản chính sang châu Á trong 9 tháng năm 2026 tăng 11,9%; châu Mỹ tăng 2,3%; châu Âu tăng 2,6%; châu Đại Dương tăng 15,5%. Trong khi đó, xuất khẩu sang châu Phi giảm 16,7%.
Rau quả, thủy sản và hạt tiêu tiếp tục là điểm sáng
Trong các nhóm hàng chủ lực, rau quả tiếp tục là điểm sáng. Tháng 9/2026, xuất khẩu rau quả ước đạt 1,19 tỷ USD, đưa tổng giá trị 9 tháng lên gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Trung Quốc là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam, chiếm 63% tổng giá trị xuất khẩu. Hai thị trường tiếp theo là Hoa Kỳ và Hàn Quốc, lần lượt chiếm 7% và 3,8%. So với cùng kỳ, xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc tăng 38,8%, Hoa Kỳ tăng 17,9% và Hàn Quốc tăng 9,7%.
Xuất khẩu thủy sản cũng duy trì đà tăng trưởng. Tháng 9/2026 đạt khoảng 1,17 tỷ USD, nâng tổng giá trị 9 tháng năm 2026 lên 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là ba thị trường lớn nhất, lần lượt chiếm 23,7%, 15,7% và 14% thị phần.
Trong đó, xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc tăng 33,9%, Hoa Kỳ tăng 1,5% và Nhật Bản tăng 2,8%. Trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Brazil ghi nhận mức tăng cao nhất, 46,1%, trong khi Bỉ giảm mạnh nhất, 8,2%.
Với hạt tiêu, xuất khẩu 9 tháng năm 2026 đạt 214,4 nghìn tấn, trị giá 1,4 tỷ USD, tăng 15% về lượng và 10,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 26,7% thị phần, tiếp đến là Đức 6,1% và Thái Lan 4,4%. Giá trị xuất khẩu hạt tiêu sang Hoa Kỳ tăng 19,2%, Thái Lan tăng 52,8%, trong khi Đức giảm 17%.
Xuất khẩu hạt điều 9 tháng đạt 543,4 nghìn tấn, trị giá 3,85 tỷ USD, giảm 2% về lượng nhưng tăng 2% về giá trị. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hà Lan là ba thị trường lớn nhất, chiếm lần lượt 24,9%, 20,9% và 7,3%. Trong đó, giá trị xuất khẩu hạt điều sang Trung Quốc tăng 22,4%, Hoa Kỳ tăng 10,5%, trong khi Hà Lan giảm 21,7%.
Cà phê, cao su và gạo chịu áp lực giảm giá trị xuất khẩu
Trái với những nhóm hàng tăng trưởng tích cực, xuất khẩu cà phê tiếp tục cho thấy sự phân hóa giữa lượng và giá trị. Tháng 9, Việt Nam xuất khẩu khoảng 114,2 nghìn tấn cà phê, trị giá 511,8 triệu USD. Lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 1,4 triệu tấn, trị giá 6,54 tỷ USD, tăng 15,4% về khối lượng nhưng giảm 7,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Đức, Italia và Nhật Bản là ba thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất, với thị phần tương ứng 13,1%, 8,2% và 7,2%. Giá trị xuất khẩu sang Đức giảm 12,5%, Nhật Bản giảm 3,6%, trong khi Italia tăng nhẹ 0,5%.
Tương tự, xuất khẩu cao su 9 tháng năm 2026 đạt 1,1 triệu tấn, trị giá 2,18 tỷ USD, giảm 16,2% về lượng và 4,4% về giá trị. Trung Quốc chiếm tới 58,7% thị phần, tiếp đến là Ấn Độ 8,5% và Indonesia 6,9%.
Đáng chú ý, xuất khẩu cao su sang Trung Quốc giảm 20,8%, trong khi Ấn Độ tăng 52,1% và Indonesia tăng 2,5 lần, cho thấy sự dịch chuyển đáng kể giữa các thị trường tiêu thụ.
Xuất khẩu gạo cũng chịu áp lực giảm. Tháng 9/2026, Việt Nam xuất khẩu 377,4 nghìn tấn, trị giá 205,6 triệu USD. Tính chung 9 tháng năm 2026, xuất khẩu đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỷ USD, giảm 6,1% về lượng và 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất, chiếm 40,9% thị phần; Trung Quốc và Ghana lần lượt chiếm 17,4% và 12,7%. So với cùng kỳ, giá trị xuất khẩu sang Philippines giảm 16,8%, Ghana giảm 1,1%, trong khi Trung Quốc tăng tới 76%.
Ở nhóm lâm sản, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tháng 9/2026 ước đạt 1,62 tỷ USD, nâng tổng giá trị 9 tháng năm 2026 lên gần 13,43 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 50,1% thị phần, tiếp đến là Trung Quốc 15% và Nhật Bản 12,5%. Tuy nhiên, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ giảm 4,6% so với cùng kỳ, trong khi Trung Quốc tăng 43,4% và Nhật Bản tăng 5,3%. Bỉ là thị trường có mức tăng mạnh nhất trong nhóm 15 thị trường lớn, với 2,4 lần; ngược lại, xuất khẩu sang Ấn Độ giảm 25,9%.
Nhìn tổng thể, kết quả 9 tháng cho thấy xuất khẩu nông lâm thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, song diễn biến giữa các ngành hàng và thị trường có sự phân hóa rõ. Rau quả, thủy sản, hạt tiêu và một số nhóm hàng chế biến tăng trưởng tích cực, trong khi cà phê, cao su và gạo cùng ghi nhận mức giảm về giá trị xuất khẩu. Điều này cho thấy cơ cấu thị trường và khả năng gia tăng giá trị hàng hóa tiếp tục là những yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng xuất khẩu nông lâm thủy sản trong những tháng cuối năm.