Nữ sinh Việt Nam đầu tiên giành huy chương Olympic Toán quốc tế, có ông nội là Phó Thủ tướng
Tại kỳ thi năm 1975 tổ chức ở Bulgaria, bà Phan Vũ Diễm Hằng ghi dấu mốc ấn tượng khi trở thành nữ sinh Việt Nam đầu tiên giành huy chương IMO.
Việt Nam chính thức tham dự Olympic Toán học quốc tế (IMO) từ năm 1974. Tính đến năm 2026, đội tuyển Việt Nam đã có 13 nữ sinh từng góp mặt tại sân chơi trí tuệ dành cho học sinh trung học này.
Trong đó, Phan Vũ Diễm Hằng là nữ sinh đầu tiên đại diện Việt Nam tham dự IMO. Tại kỳ thi năm 1975 tổ chức ở Bulgaria, bà ghi dấu mốc ấn tượng khi trở thành nữ sinh Việt Nam đầu tiên giành huy chương. Với 24/40 điểm, bà xuất sắc đoạt Huy chương Đồng.
ThS. Phan Vũ Diễm Hằng là cựu học sinh Trường THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội). Bà còn là cháu nội của cụ Phan Kế Toại - một chí sĩ yêu nước. Ngày 20/9/1955, cụ Phan Kế Toại được giao trọng trách Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ suốt 2 nhiệm kỳ 1955-1958; 1958-1961. Sau đó, cụ tiếp tục giữ chức vụ Phó Thủ tướng thêm 2 nhiệm kỳ nữa cho đến khi qua đời năm 1973.
Niềm đam mê Toán học của bà Phan Vũ Diễm Hằng bắt đầu từ năm lớp 6, khi theo học tại Trường Trưng Vương, Hà Nội. Bà vốn học giỏi cả Toán và Văn. Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy cuốn hút, khơi gợi tư duy của thầy giáo Lê Mộng Ngọc đã giúp bà xác định rõ con đường theo đuổi môn Toán.
Từ đó, bà thi vào lớp chuyên Toán A0, Trường Đại học Tổng hợp (nay là Trường THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội). Trong số 21 học sinh của lớp chuyên Toán năm ấy, chỉ có 2 nữ sinh, trong đó có bà. Với thành tích học tập xuất sắc, bà được lựa chọn vào đội tuyển gồm 8 thành viên đại diện Việt Nam tham dự IMO 1975, do 2 thầy giáo Phan Đức Chính và Lê Hải Châu dẫn dắt. Trong đoàn chỉ có mình bà là nữ. Đoàn Việt Nam quá cảnh tại Mat-xơ-cơ-va (Liên Xô), sau đó tiếp tục di chuyển bằng tàu hỏa đến Bun-ga-ri để tham dự kỳ thi.
Sau thành tích tại IMO, bà sang Liên bang Nga học đại học tại Đại học Quốc gia Moskva (MGU). Bà lựa chọn Toán ứng dụng, ngành Điều khiển tối ưu. Những kiến thức chuyên môn này, đặc biệt là khả năng ứng dụng trong lĩnh vực y tế, đã tạo nền tảng để bà gắn bó với công tác dịch tễ và y học cộng đồng sau này.
Tốt nghiệp, bà trở về nước và công tác tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương trong 16 năm. Một trong những dấu ấn bà nhớ nhất là tham gia Chương trình Tiêm chủng mở rộng ngay từ những ngày đầu triển khai. Thời điểm đó, tài liệu hướng dẫn về vaccine chủ yếu được chuyển đến cấp huyện dưới dạng những cuốn sách dày, khó tra cứu và tốn kém chi phí in ấn.
Trong khi đó, tuyến y tế xã - nơi trực tiếp thực hiện công tác tiêm chủng - lại thiếu tài liệu hướng dẫn ngắn gọn, cụ thể và dễ áp dụng.
Trước thực tế này, bà đề xuất với lãnh đạo Viện biên soạn một tài liệu hướng dẫn cô đọng hơn. Sau đó, bà cùng các bác sĩ trẻ chắt lọc thông tin, xây dựng cuốn sổ tay chỉ hơn 10 trang để in và phân phát đến các trạm y tế xã. Theo bà, dù số lượng vaccine trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng ngày càng tăng, cuốn sổ tay này vẫn phát huy hiệu quả và được nhân viên y tế cơ sở sử dụng.
Đặc biệt, chồng bà cũng làm trong ngành vệ sinh dịch tễ.
Đến năm 1997, bà chuyển sang làm việc cho chương trình phòng, chống AIDS của Liên Hợp Quốc, sau đó tiếp tục tham gia nhiều chương trình và dự án khác nhau.
Sau khi nghỉ hưu, bà sáng lập nhóm Ong Chăm, triển khai các hoạt động hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của đồng bào dân tộc tại khu vực miền núi phía Bắc. Trong đó, giáo dục, việc học tập và phát triển toàn diện của trẻ em là một trong những lĩnh vực được bà đặc biệt quan tâm.
Những năm gần đây, nhóm thiện nguyện do bà sáng lập đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ học sinh vùng cao, trong đó có xây dựng các khu ký túc xá tại những điểm trường khó khăn và bảo trợ trẻ em mồ côi.






