Nhà văn của Việt Nam sở hữu công trình phê bình nổi tiếng bậc nhất thế kỷ XX: Khai sinh ra thuật ngữ 'văn học dân gian', con trai là liệt sĩ, thư ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Tên của ông được đặt cho một con phố của thủ đô Hà Nội.
Trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX, nhà văn, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vũ Ngọc Phan được xem là một trong những học giả có đóng góp quan trọng nhất đối với sự hình thành và phát triển của ngành nghiên cứu văn học hiện đại. Với gần 60 năm hoạt động bền bỉ trên nhiều lĩnh vực từ báo chí, dịch thuật, khảo cứu đến sưu tầm văn học dân gian, ông để lại một di sản học thuật có giá trị lâu dài, ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều thế hệ nghiên cứu sau này.
Người tiên phong đưa văn học thế giới đến với độc giả Việt Nam
Vũ Ngọc Phan sinh ngày 8/9/1902 tại phố Hàng Đào, Hà Nội, quê gốc ở làng Đông Cảo (Đông Cứu, Gia Lương cũ, tỉnh Bắc Ninh). Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học lâu đời. Cha ông - cụ Vũ Kỳ Sâm, là người yêu thích thơ văn, thường xuyên tổ chức những buổi đàm đạo văn chương tại nhà.
Tuổi thơ của Vũ Ngọc Phan gắn liền với sách vở. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán, chữ Nôm trước khi tiếp cận chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Nhờ trí nhớ tốt và niềm say mê đọc sách, cậu bé Vũ Ngọc Phan sớm hình thành vốn hiểu biết rộng về văn chương Đông - Tây.
Trong bối cảnh nền Tây học phát triển mạnh đầu thế kỷ XX, ông theo học tại trường Albert Sarraut - một trong những ngôi trường danh giá nhất Đông Dương thời bấy giờ. Thành tích học tập xuất sắc giúp ông nhiều năm được miễn học phí. Năm 1929, ở tuổi 27, Vũ Ngọc Phan đỗ Tú tài Tây học toàn phần.
Với tấm bằng danh giá ấy, nhiều thanh niên đương thời lựa chọn làm việc cho chính quyền bảo hộ hoặc các doanh nghiệp của Pháp. Bản thân Vũ Ngọc Phan cũng được chính quyền thực dân mời tham gia bộ máy hành chính. Tuy nhiên, không muốn gắn mình với cuộc sống công chức, ông quyết định theo nghề dạy học tư, viết báo, viết văn và dịch sách.
Quyết định ấy đã mở ra hành trình học thuật kéo dài gần 6 thập niên của một trong những nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất đối với văn học Việt Nam hiện đại.
Từ những năm 1930 đến trước Cách mạng Tháng Tám, Vũ Ngọc Phan hoạt động sôi nổi trên lĩnh vực báo chí, nghiên cứu và dịch thuật. Ông cộng tác với nhiều tờ báo, tạp chí có tiếng như Pháp Việt, Văn học, Nhật Tân, Phổ thông bán nguyệt san, Sông Hương...
Bên cạnh hàng trăm bài báo và tiểu luận, ông còn dịch, phóng tác nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học thế giới từ tiếng Anh và tiếng Pháp sang tiếng Việt. Những bản dịch đáng chú ý gồm “Đảo giấu vàng” của Robert Louis Stevenson, “An-na Kha-lệ-ninh” (Anna Karenina) của Lev Tolstoy, “Y-vân-hoa” (Ivanhoe) của Walter Scott, “Lâu đài họ Hạ” và “Chọn bạn tình” của E.T.A. Hoffmann, hay “Người Xô viết chúng tôi” của Boris Polevoy.
Giới nghiên cứu đánh giá Vũ Ngọc Phan là một trong những người đi đầu trong việc dịch thuật và giới thiệu các tác phẩm kinh điển của văn học thế giới tới bạn đọc Việt Nam, góp phần mở rộng tầm nhìn văn hóa của xã hội Việt Nam thời kỳ giao thoa Đông - Tây.
Dấu ấn lớn nhất trong sự nghiệp của Vũ Ngọc Phan trước năm 1945 là bộ sách “Nhà văn hiện đại”. Được xuất bản từ năm 1942 đến 1945, công trình gồm 4 quyển, khảo sát 79 nhà văn Việt Nam viết bằng chữ Quốc ngữ thuộc nhiều thể loại như thơ, tiểu thuyết, ký, khảo cứu và phê bình. Tổng dung lượng bộ sách vượt quá 1.000 trang.
Trong bối cảnh hoạt động nghiên cứu văn học ở Việt Nam còn khá mới mẻ, Vũ Ngọc Phan đã tiếp cận văn học bằng phương pháp khảo cứu hiện đại tiếp thu từ phương Tây. Ông đặt trọng tâm vào việc đọc kỹ văn bản tác phẩm, phân tích nội dung, nghệ thuật, phong cách sáng tác, đồng thời xác định vị trí của từng tác giả trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc. Nhiều nhận định của ông về Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương hay các cây bút xuất hiện đầu thập niên 1940 vẫn được giới nghiên cứu tham khảo đến ngày nay.
Công trình được đánh giá mang dáng dấp của một bộ văn học sử về giai đoạn chuyển tiếp từ văn học cận đại sang văn học hiện đại Việt Nam. Giáo sư Phong Lê từng nhận định rằng, “Nhà văn hiện đại” vẫn là một trong những công trình có dấu ấn đậm nét nhất của nghiên cứu văn học Việt Nam thế kỷ XX. Trong nhiều năm hướng dẫn luận án tiến sĩ và thạc sĩ, ông luôn xem đây là tài liệu tham khảo bắt buộc đối với những người nghiên cứu văn học hiện đại.
Từ phê bình văn học đến những công trình lớn về văn học dân gian
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Vũ Ngọc Phan bước sang một chặng đường hoạt động mới. Ông tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám, giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Văn hóa Bắc Bộ; cộng tác với Tạp chí Tiền phong của Hội Văn hóa Cứu quốc; tham gia Đoàn Văn hóa kháng chiến Liên khu IV; là Ủy viên Ban nghiên cứu Văn - Sử - Địa.
Sau năm 1954, ông tiếp tục công tác tại Ban Văn - Sử - Địa, rồi chuyển về Viện Văn học từ năm 1959. Ông cũng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Ủy viên Ban Chấp hành Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Tổng Thư ký kiêm Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.
Nếu “Nhà văn hiện đại” là dấu ấn lớn nhất của giai đoạn trước năm 1945 thì văn học dân gian chính là lĩnh vực tạo nên tên tuổi Vũ Ngọc Phan trong giai đoạn sau.
Ông dành nhiều năm đi thực địa tại các vùng miền, sưu tầm truyện cổ, tục ngữ, ca dao và dân ca của nhiều cộng đồng dân tộc trên cả nước. Từ những chuyến đi ấy, hàng loạt công trình có giá trị ra đời như “Truyện cổ Việt Nam”, “Truyện cổ dân gian của các dân tộc Việt Nam”, “Quả bầu kỳ lạ”, “Tấm Cám”, “Ca dao chống Mỹ”, “Hợp tuyển văn học Việt Nam”...
Đặc biệt, bộ khảo cứu “Tục ngữ - Ca dao - Dân ca Việt Nam” được xem là một trong những công trình nền tảng của ngành nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam. Với quy mô gần 1.000 trang, tác phẩm đề cập nhiều vấn đề lý luận quan trọng như khái niệm thành ngữ, tục ngữ, dân ca; sự khác biệt giữa ca dao và dân ca; nội dung, hình thức và môi trường diễn xướng của các thể loại văn học dân gian.
Cho đến nay, công trình đã được tái bản nhiều lần và vẫn được sử dụng như tài liệu tham khảo có giá trị đối với giới nghiên cứu, giảng dạy và sinh viên. Giới học thuật cũng ghi nhận Vũ Ngọc Phan là người khai sinh ra thuật ngữ "văn học dân gian", thay thế cho các cách gọi phổ biến trước đó như "văn học bình dân" hay "văn chương truyền khẩu".
Chuyện tình đẹp với nhà thơ Hằng Phương
Bên cạnh sự nghiệp học thuật, cuộc hôn nhân giữa Vũ Ngọc Phan và nữ sĩ Hằng Phương cũng được nhiều người nhắc tới như một câu chuyện đẹp của đời sống văn học Việt Nam.
Hằng Phương là gương mặt nữ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, sở hữu giọng thơ đằm thắm, giàu tình quê và tình thân, đồng thời là người phụ nữ trí thức có nhiều đóng góp trên cả lĩnh vực văn chương, hoạt động xã hội và cách mạng.
Năm 1924, khi đang ở trọ học tại phố Phạm Phú Thứ (Hà Nội), chàng học trò Vũ Ngọc Phan gặp cô hàng xóm Hằng Phương và nhanh chóng đem lòng yêu mến. Thời điểm ấy, cả hai đều có nhiều người theo đuổi. Thậm chí có gia đình giàu có hứa tài trợ cho Vũ Ngọc Phan sang Pháp du học nếu ông đồng ý kết hôn với con gái họ.
Tuy nhiên, mọi lời mai mối đều bị từ chối. Trong trái tim của chàng thư sinh trẻ tuổi lúc ấy chỉ có hình bóng Hằng Phương. Nhận thấy con trai ngày càng trầm tư, không mặn mà với chuyện hôn nhân, mẹ của Vũ Ngọc Phan nhiều lần lo lắng. Đến khi được con trai thổ lộ chuyện tình cảm, gia đình mới chính thức mang trầu cau sang hỏi cưới.
Về phía Hằng Phương, bà cũng là đối tượng theo đuổi của nhiều thanh niên xuất thân danh giá. Trong số đó có những công tử con quan, những thanh niên từng du học Pháp hoặc theo học các trường danh tiếng đương thời. Xét về điều kiện kinh tế và địa vị xã hội, không ít người được đánh giá vượt trội hơn Vũ Ngọc Phan.
Chính vì thế, khi biết Hằng Phương lựa chọn chàng thư sinh họ Vũ, một số người không khỏi thất vọng. Thậm chí xuất hiện cả những lá thư nặc danh nhằm bôi nhọ Vũ Ngọc Phan với đủ lời đồn đoán về hoàn cảnh gia đình và sức khỏe. Những thông tin ấy từng khiến gia đình học giả Lê Dư lo lắng cho tương lai của con gái.
Tuy nhiên, Hằng Phương vẫn giữ nguyên quyết định của mình. Bỏ ngoài tai mọi lời dị nghị, bà kiên định bảo vệ tình yêu đã lựa chọn. Ngày 25/12/1925, hai người chính thức nên duyên vợ chồng, mở đầu cho cuộc hôn nhân kéo dài gần 60 năm.
Hằng Phương luôn là người bạn đời, người đồng hành và cũng là chỗ dựa tinh thần quan trọng đối với sự nghiệp của Vũ Ngọc Phan. Khi xuất bản quyển đầu tiên của bộ “Nhà văn hiện đại” năm 1942, ông dành tặng người vợ của mình cuốn sách bìa đỏ đẹp nhất với dòng chữ: "Tặng Hằng Phương tập phê bình thứ nhất của tôi, để ghi tạc sự đồng tâm đồng chí của đôi ta".
Khi dịch thiên tình sử nổi tiếng của Pháp “Chàng T'rixtăng và nàng Ydơ”, ông đã Việt hóa tên 2 nhân vật thành Tiểu Nhiên và Mị Cơ để phù hợp với độc giả trong nước. Trên trang đề tặng của tác phẩm, Vũ Ngọc Phan viết dòng chữ đầy tình cảm: “Tặng Hằng Phương, Mị Cơ của lòng tôi”.
Theo nhiều đồng nghiệp và học trò, tình cảm vợ chồng của họ luôn được gìn giữ bằng sự trân trọng và thủy chung hiếm thấy. Sau khi Hằng Phương qua đời năm 1983, Vũ Ngọc Phan dành phần còn lại của cuộc đời để hoàn thành cuốn hồi ký “Những năm tháng ấy”, trong đó có nhiều trang viết đầy xúc động về người bạn đời gắn bó gần 6 thập niên.
Vũ Ngọc Phan và Hằng Phương có 10 người con, trong đó 3 người mất khi còn nhỏ. Nhiều người con của ông bà sau này trở thành những trí thức, nhà khoa học và văn nghệ sĩ nổi tiếng như Giáo sư, họa sĩ Vũ Giáng Hương; liệt sĩ Vũ Hoài Tuân - cán bộ cao cấp, chuyên gia vũ khí nguyên tử đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, từng làm thư ký cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Giáo sư Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng; chuyên gia cao cấp cơ khí Vũ Huyền Giao; Phó Giáo sư Vũ Phi Hồng; Giáo sư Vũ Triệu Mân; Kiến trúc sư Vũ Ngọc Phương.
Vũ Ngọc Phan qua đời ngày 14/6/1987 tại Hà Nội. Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho những công trình nghiên cứu văn học dân gian tiêu biểu. Tên của ông được đặt cho một con phố của thủ đô Hà Nội.
Di sản mà ông để lại không chỉ nằm ở hàng chục công trình nghiên cứu, dịch thuật và phê bình văn học, mà còn ở phương pháp làm việc khoa học, tinh thần khảo cứu nghiêm cẩn cùng những đóng góp mang tính mở đường cho ngành nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại.
* Bài viết có sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Nhà văn Vũ Ngọc Phan - Một tâm hồn thấm đẫm văn hóa Việt - Báo Tin tức/TTXVN
- Nhà văn VŨ NGỌC PHAN (1902 – 1987) - Bảo tàng Văn học Việt Nam
- Vũ Ngọc Phan và cái "hậu" của thế kỷ 20 - Báo Nhân dân
- Chuyện tình của giai nhân phong trào Thơ mới - Tri thức - Znews
- Hoàng hôn cuối cùng của vợ chồng Vũ Ngọc Phan - Khoa Văn học và Ngôn ngữ học (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia TP. HCM)
- Vũ Ngọc Phan - DANH NHÂN VĂN HÓA hiện đại - Báo Giáo dục và Thời đại
