Vị kỹ sư trưởng từ bỏ vinh hoa trời Tây theo Bác Hồ về nước: Xây dựng lò luyện thép đầu tiên ở Việt Nam, được đặt tên cho con đường cạnh trường đại học nổi tiếng
Đang có sự nghiệp rộng mở và cuộc sống ổn định tại Pháp, ông vẫn quyết định theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước trong thời khắc lịch sử năm 1946.
Trong lịch sử ngành công nghiệp Việt Nam, kỹ sư Võ Quý Huân (1912-1967) được ghi nhận là một trong những người đặt nền móng cho ngành đúc - luyện kim, đồng thời là một trong 4 trí thức Việt kiều được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn trở về nước năm 1946 để phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.
Từ một kỹ sư trưởng tại nhà máy nghiên cứu, sản xuất động cơ máy bay ở Pháp với tương lai rộng mở, ông đã lựa chọn rời bỏ cuộc sống ổn định để trở về đất nước trong thời khắc lịch sử đầy biến động.
Vị kỹ sư trưởng từ bỏ vinh hoa trời Tây để về nước
Sinh ngày 7/11/1912 trong một gia đình giáo học tại Thanh Chương (Nghệ An), Võ Quý Huân sớm chứng kiến cảnh nhân dân bị thực dân đàn áp ở quê hương xứ Nghệ. Sau khi tham gia hoạt động báo chí với tờ Đông Dương hoạt động mang tư tưởng tiến bộ, ông phải sang Pháp năm 1937 để tránh sự truy bức của chính quyền thực dân.
Những năm tháng ở Pháp trở thành bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời ông. Dù vừa học vừa làm trong điều kiện khó khăn, Võ Quý Huân luôn ghi nhớ lời cha căn dặn: "Phải học cho giỏi để có ngày về phục vụ Tổ quốc".
Những năm đầu nơi đất khách không hề dễ dàng. Ông vừa lao động để trang trải cuộc sống, vừa theo học tại nhiều cơ sở đào tạo kỹ thuật hàng đầu. Từ quyết tâm ấy, ông lần lượt tốt nghiệp 3 ngành kỹ sư gồm cơ điện, đúc - luyện kim và kỹ nghệ chuyên nghiệp. Kiến thức tích lũy trong giai đoạn này sau đó trở thành nền tảng để ông thiết kế lò cao, chế tạo máy nghiền bột giấy, máy tiện, máy hơi cùng nhiều thiết bị phục vụ nền công nghiệp kháng chiến.
Võ Quý Huân nhanh chóng được tuyển dụng vào nhiều doanh nghiệp công nghiệp lớn của Pháp. Ông từng làm việc tại hãng tàu thủy Compagnie Transatlantique và sau đó giữ vị trí kỹ sư trưởng tại nhà máy nghiên cứu, sản xuất động cơ máy bay Potéz. Nếu tiếp tục ở lại Pháp, ông có nhiều cơ hội phát triển sự nghiệp trong ngành công nghiệp cơ khí - hàng không đang phát triển mạnh sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Song song với công việc chuyên môn, Võ Quý Huân vẫn duy trì các hoạt động hướng về quê hương. Ông tham gia Tổng Công đoàn Pháp (CGT), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Pháp từ tháng 7/1939 và tích cực hoạt động trong cộng đồng Việt kiều yêu nước.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi biết tin Việt Nam giành được độc lập, ông cùng nhiều trí thức Việt kiều thành lập Việt Nam Đồng chí Hội, tham gia Hội Pháp - Việt hữu nghị và Hội Việt - Pháp hữu nghị. Với khả năng ngoại ngữ và kiến thức chuyên môn, ông đảm nhiệm nhiều công việc kết nối giữa cộng đồng người Việt với các tổ chức tại Pháp, đồng thời vận động sự ủng hộ dành cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp, đồng thời cùng phái đoàn Chính phủ Việt Nam tham dự Hội nghị Fontainebleau với mong muốn tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho đất nước. Trong thời gian này, Võ Quý Huân là một trong những trí thức Việt kiều tích cực hỗ trợ đoàn Việt Nam.
Theo nhiều tư liệu lịch sử, ông làm công tác giao dịch cho phái đoàn trong những ngày lưu lại Paris, đồng thời cùng họa sĩ Mai Trung Thứ quay phim, chụp ảnh, ghi lại gần 1.000 thước phim tư liệu về các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pháp.
Khoảng thời gian được tiếp xúc và làm việc gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ảnh hưởng sâu sắc đối với Võ Quý Huân. Qua những cuộc trò chuyện, ông càng hiểu rõ hơn khát vọng độc lập của dân tộc cũng như tầm nhìn của người đứng đầu Nhà nước non trẻ.
Sau khi Hội nghị Fontainebleau kết thúc mà không đạt kết quả như mong muốn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị trở về nước. Trước lúc rời Pháp, Người bí mật gặp gỡ một số trí thức Việt kiều tiêu biểu và bày tỏ mong muốn họ cùng trở về để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến có thể xảy ra.
4 trí thức được lựa chọn cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước gồm giáo sư Phạm Quang Lễ (sau này là Trần Đại Nghĩa), bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Võ Đình Quỳnh và kỹ sư Võ Quý Huân. Mỗi người mang theo một chuyên môn khác nhau để phục vụ những nhu cầu cấp thiết của đất nước. Bác sĩ Trần Hữu Tước phụ trách lĩnh vực y tế, trong khi 3 kỹ sư được kỳ vọng góp phần xây dựng nền công nghiệp, khai khoáng, luyện kim và nghiên cứu chế tạo vũ khí.
Khi ấy, Võ Quý Huân đã có công việc ổn định, người vợ Pháp gốc Nga cùng cô con gái mới 2 tuổi. Theo hồi ký của Giáo sư Trần Đại Nghĩa, ông Huân nhiều lần lặng nhìn ra biển trong suốt hành trình trở về Việt Nam. Dù vậy, ông vẫn lựa chọn gác lại hạnh phúc riêng để đáp lại tiếng gọi của Tổ quốc.
Ngày 16/9/1946, đoàn rời Paris bằng chuyến tàu hỏa đặc biệt đến cảng Toulon. 3 ngày sau, sáng 19/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn lên thông báo hạm Dumont d'Urville của Hải quân Pháp trở về Việt Nam.
Suốt hơn 1 tháng lênh đênh trên biển, con tàu chở Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các trí thức Việt kiều cập cảng Hải Phòng ngày 20/10/1946 trong sự đón tiếp của các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và đông đảo nhân dân.
Người đặt nền móng cho ngành đúc - luyện kim Việt Nam
Sau khi về nước, Võ Quý Huân được giao nhiều trọng trách trong lĩnh vực kinh tế và công nghiệp. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, ông chỉ đạo sơ tán các nhà máy Trường Thi và Bến Thủy lên chiến khu, đồng thời xây dựng hệ thống cơ sở sản xuất mới phục vụ kháng chiến.
Theo nhiều tư liệu lịch sử, hơn 3.000 tấn máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đã được di chuyển an toàn vào chiến khu. Từ cơ sở vật chất ấy, hàng loạt đơn vị sản xuất mới lần lượt được hình thành như các Nhà máy Kinh tế 1, 2, 3 cùng Trường Cán bộ Kỹ thuật Trung Bộ nhằm duy trì năng lực sản xuất phục vụ kháng chiến.
Trong điều kiện vật tư khan hiếm, kỹ sư Võ Quý Huân cùng các cộng sự liên tục nghiên cứu, chế tạo nhiều thiết bị phục vụ đời sống và sản xuất như máy nghiền bột giấy, máy tiện, máy hơi, lò sinh khí thay thế xăng cho ô tô, ca nô, cồn công nghiệp và nhiều loại máy công cụ cỡ nhỏ. Những sản phẩm này góp phần giải quyết nhu cầu cấp bách của các cơ sở sản xuất trong vùng tự do.
Đến đầu năm 1947, Võ Quý Huân được điều động làm Giám đốc Sở Khoáng chất - Kỹ nghệ Trung Bộ kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Sản xuất Kỹ nghệ miền Nam và Liên khu IV.
Trước bối cảnh cuộc kháng chiến ngày càng ác liệt, nhu cầu sản xuất vũ khí tăng nhanh trong khi nguồn gang hoàn toàn phụ thuộc vào bên ngoài, Cục Quân giới (Bộ Quốc phòng) đề nghị Sở Khoáng chất - Kỹ nghệ Trung Bộ nghiên cứu sản xuất gang từ nguồn nguyên liệu trong nước để phục vụ chế tạo mìn, lựu đạn, đạn pháo và nhiều loại quân dụng khác.
Đây là nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ. Việt Nam khi đó gần như chưa có nền công nghiệp luyện kim đúng nghĩa. Việc xây dựng ngành luyện gang phải bắt đầu gần như từ con số không khi thiếu tài liệu kỹ thuật, thiếu đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản, thiếu vật liệu chịu lửa, thiếu nhiên liệu và cả thiết bị đo lường hiện đại. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất luôn đứng trước nguy cơ bị máy bay Pháp phát hiện và ném bom.
Phát huy nền tảng kiến thức tích lũy trong thời gian học tập tại Pháp, Võ Quý Huân trực tiếp đảm nhận vai trò Giám đốc đồng thời là "tổng công trình sư" của Nhà máy Kim khí kháng chiến (3KC). Cùng ông tham gia dự án còn có nhiều cán bộ kỹ thuật như đốc công Lê Tiến Văn, tổ trưởng luyện gang Lê Huy Yêm, Nguyễn Thái Đồng phụ trách luyện cốc, Lê Khánh Cư phụ trách năng lượng cùng nhiều công nhân, kỹ thuật viên khác.
Sau nhiều tháng khảo sát quặng sắt, thử nghiệm than cốc và liên tục điều chỉnh thiết kế, một lò cao dung tích khoảng 450 lít, cao 2,4m được xây dựng tại khu rừng Cầu Đất (Con Cuông, Nghệ An).
Chiều ngày 15/11/1948, lò cao chính thức vận hành thành công. Quặng sắt Vân Trì (Nghi Lộc, Nghệ An) được nung chảy ở nhiệt độ cao, tạo ra dòng gang đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự kiện này được xem là cột mốc mở đầu cho ngành đúc - luyện kim Việt Nam. Lần đầu tiên, nước ta tự luyện được gang bằng nguyên liệu trong nước ngay giữa điều kiện chiến tranh. Tiếng reo hò của cán bộ, công nhân cùng người dân địa phương vang lên khi dòng gang đỏ rực chảy khỏi cửa lò.
Điều đặc biệt là những thỏi gang đầu tiên không được dùng để chế tạo vũ khí. Các công nhân đã đề nghị sử dụng số gang này để đúc tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm bày tỏ lòng biết ơn đối với Người.
Từ ký ức những ngày sống cùng Bác tại Pháp, kỹ sư Võ Quý Huân thiết kế khuôn tượng bán thân. Ba công nhân chưa từng qua trường lớp đào tạo về nghề đúc đã hoàn thành tác phẩm chỉ sau 5 ngày mày mò thực hiện. Bức tượng sau đó được đưa đi triển lãm tại Liên khu IV rồi chuyển ra Việt Bắc, trở thành biểu tượng của lòng tri ân và khát vọng độc lập.
Sau thành công của lò cao đầu tiên, Võ Quý Huân tiếp tục chỉ đạo thiết kế và xây dựng các lò cao 3KC2, 3KC3 với dung tích khoảng 1m³. Mỗi lần phải di chuyển địa điểm để tránh sự đánh phá của quân Pháp, ông và các cộng sự lại cải tiến thiết kế nhằm nâng công suất, tăng chất lượng gang và hoàn thiện quy trình sản xuất.
Từ những lò cao này, hàng trăm tấn gang lần lượt được sản xuất, cung cấp nguyên liệu cho ngành quân giới. Những quả mìn, lựu đạn, vỏ bom cùng nhiều loại vũ khí do kỹ sư Trần Đại Nghĩa thiết kế được sản xuất hàng loạt từ nguồn gang do Võ Quý Huân và các cộng sự tạo ra, góp phần phục vụ các chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Cuối năm 1950, trước yêu cầu phát triển công nghiệp quốc phòng lên một bước mới, Võ Quý Huân được điều lên Việt Bắc, nhận nhiệm vụ Trưởng ban Kỹ thuật của Cục Quân giới để tham gia nghiên cứu luyện thép.
Nếu thành công với gang giúp Việt Nam chủ động một phần nguyên liệu cho sản xuất vũ khí thì luyện được thép sẽ tạo điều kiện chế tạo nhiều loại quân trang, quân dụng và công cụ có độ bền cao hơn. Tuy nhiên, đây là bài toán kỹ thuật còn khó hơn nhiều so với luyện gang.
Trong điều kiện thiếu vật liệu chịu lửa, thiếu thiết bị điện và gần như không có tài liệu tham khảo, Võ Quý Huân cùng các đồng nghiệp phải tự nghiên cứu từng chi tiết của lò hồ quang điện, từ vật liệu xây lò, hệ thống điện cực đến giải pháp chống thất thoát nhiệt.
Sau nhiều lần thử nghiệm, tháng 10/1951, lò điện hồ quang đầu tiên hoàn thành và bắt đầu vận hành thử. Chỉ sau khoảng 2 giờ hoạt động, dòng thép nóng chảy đầu tiên xuất hiện đủ để đúc một chiếc cuốc chim. Mẻ thép đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời từ đó.
Từ kết quả này, tháng 11/1951, Võ Quý Huân tiếp tục cùng các cộng sự xây dựng lò luyện thép quy mô lớn hơn tại Bản Thi (Chợ Đồn, Bắc Kạn cũ), chuyển giao công nghệ cho các cơ sở sản xuất phục vụ quân giới. Trong giai đoạn 1951-1954, các lò cao và lò luyện thép do ông tham gia thiết kế đã cung cấp hàng trăm tấn gang, thép phục vụ chế tạo vũ khí, quân cụ và một số nông cụ phục vụ sản xuất.
Được đặt tên cho con đường cạnh Đại học Công nghiệp Hà Nội
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, đầu năm 1955, ông được giao làm Hiệu trưởng Trường Kỹ nghệ thực hành, tiền thân của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội ngày nay.
Trong giai đoạn này, Võ Quý Huân trực tiếp tham gia xây dựng chương trình đào tạo kỹ thuật, giảng dạy và hướng dẫn thực hành. Nhiều học trò của ông như Hà Học Trạc, Hoàng Bình, Nguyễn Đình Nam, Nguyễn Hựu, Nguyễn Thái Đồng, Trần Lum, Lê Ba, Vũ Đình Hoành... sau này trở thành những cán bộ chủ chốt của ngành đúc - luyện kim và công nghiệp Việt Nam.
Ông cũng là người khởi xướng việc thành lập Hội Đúc - Luyện kim Việt Nam, giữ cương vị Phó Chủ tịch đầu tiên của hội.
Trước khi qua đời năm 1967, điều khiến ông luôn canh cánh là người vợ và cô con gái nơi đất khách. Ông nhiều lần căn dặn các con ở Việt Nam sau này hãy tìm lại người chị cùng cha khác mẹ.
Gần nửa thế kỷ sau, mong ước ấy mới thành hiện thực khi con gái ông tại Việt Nam tìm được chị gái ở Paris. Cuộc đoàn tụ muộn màng nối lại tình thân sau nhiều thập kỷ xa cách, giúp các thành viên trong gia đình thấu hiểu hơn lựa chọn và sự hy sinh mà Võ Quý Huân đã dành trọn cho Tổ quốc.
Ghi nhận những cống hiến của người kỹ sư tiên phong, Nhà nước truy tặng ông Huân chương Độc lập hạng Ba năm 1999 và nâng lên Huân chương Độc lập hạng Nhất vào năm 2011. Cùng năm, Hà Nội đặt tên Võ Quý Huân cho tuyến đường chạy qua Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
* Bài viết có sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Võ Quý Huân: Người kỹ sư nặng tình non nước - Đại biểu Nhân dân tỉnh Nghệ An
- Kỹ sư Võ Quý Huân và câu chuyện chưa kể về quê ngoại Hà Tĩnh - Báo Hà Tĩnh
- Kỹ sư Võ Quý Huân - Người rời bỏ vinh hoa về làm lò cao luyện thép đầu tiên ở Việt Nam - Báo Nhân Dân
- Võ Quí Huân và mẻ gang thép lịch sử - Sự kiện & Nhân chứng/Báo QĐND
- Kỹ sư Việt kiều Võ Quý Huân và mẻ gang đầu tiên - Báo Đại Đoàn kết



