Truy xuất nguồn gốc và yêu cầu quản trị chuỗi giá trị nông sản Việt

Thương hiệu 15/01/2026 11:11

Xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc hiện đại đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa dữ liệu và khẳng định thương hiệu nông sản Việt Nam. Việc số hóa toàn bộ hành trình sản phẩm không chỉ giúp doanh nghiệp chủ động kiểm soát chất lượng, giảm thiểu rủi ro thương mại mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế.

Thực trạng quản trị chuỗi giá trị và những điểm nghẽn

ma1_1768380137.jpg
Truy xuất nguồn gốc bằng mã QR đang được áp dụng trên nhiều sản phẩm nông sản, giúp minh bạch thông tin từ vùng trồng đến khâu phân phối, song việc chuẩn hóa và liên thông dữ liệu vẫn là thách thức lớn.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Kế hoạch triển khai truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2035, với mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại dựa trên dữ liệu. Hiện nay, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam gồm ba hợp phần chính: hệ thống dành cho người tiêu dùng; hệ thống dành cho người dân và doanh nghiệp cùng các đơn vị cung cấp giải pháp; và hệ thống phục vụ cơ quan quản lý nhà nước. Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán, việc chuẩn hóa hệ thống này được kỳ vọng sẽ giải quyết căn cơ bài toán niềm tin của thị trường.

Theo ông Nguyễn Quang Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, sản xuất nông nghiệp trong nước hiện vẫn tồn tại nhiều hạn chế như quy mô manh mún, chất lượng chưa đồng đều. Nhận thức của người dân về việc sử dụng hóa chất và vật tư nông nghiệp còn chưa đầy đủ, trong khi các liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ tiếp tục là những điểm nghẽn lớn. Thực tế cho thấy, nếu không giải quyết triệt để các vấn đề này, lợi thế của nông sản Việt Nam rất dễ bị xói mòn khi các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt rào cản kỹ thuật.

Số liệu thực tế tại các địa phương phản ánh rõ những rào cản trong công tác quản trị nguồn gốc. Đến nay, cả nước đã có 9.336 mã số vùng trồng và 1.379 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu các loại quả tươi, song con số này vẫn còn khá khiêm tốn so với diện tích sản xuất thực tế. Đơn cử tại tỉnh Đắk Lắk, dù sầu riêng là sản phẩm chủ lực, mới chỉ có 28/102 xã với 269 vùng trồng được cấp mã số. Tổng diện tích được cấp mã đạt hơn 7.400 ha, chiếm khoảng 28% tổng diện tích cho thu hoạch.

Ông Trương Văn Hiệu, Phó Chủ tịch UBND xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk, cho biết qua công tác giám sát định kỳ vẫn còn tình trạng đại diện các vùng trồng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với nông hộ. Nhiều hộ dân chưa hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ nên chưa ghi chép nhật ký sản xuất đầy đủ hoặc chưa tuân thủ quy trình sản xuất đồng nhất. Việc thiếu hụt dữ liệu điện tử khiến nông sản khi xuất khẩu dễ bị cảnh báo vi phạm, thậm chí bị trả về, gây tổn hại trực tiếp đến thương hiệu quốc gia.

Sức ép từ thị trường quốc tế ngày càng gia tăng khi Trung Quốc đã chi gần 7,2 tỷ USD để nhập khẩu sầu riêng chỉ trong 11 tháng năm 2025. Dù sầu riêng Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, chiếm 49,33% tổng lượng nhập khẩu tại thị trường này, song sự cạnh tranh với Thái Lan vẫn vô cùng gay gắt. Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, nhận định xuất khẩu sầu riêng có thể vượt mốc 4 tỷ USD trong năm 2026 nhờ sản lượng dự kiến tăng từ 10–20%, tuy nhiên không thể chỉ dựa vào lợi thế địa lý.

Việc thiếu minh bạch trong truy xuất nguồn gốc khiến doanh nghiệp rơi vào thế bị động khi xử lý sự cố. Bà Lê Thị Bảo Trâm, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 360 tại Gia Lai, cho rằng nếu thông tin về giống và vật tư nông nghiệp không được số hóa đầy đủ thì rất khó kiểm chứng chất lượng. Thực trạng này đòi hỏi một chuẩn vận hành mới, buộc người trồng phải tuân thủ quy trình và coi dữ liệu là một phần không thể tách rời của sản phẩm nông nghiệp, qua đó bảo đảm tính minh bạch từ khâu sản xuất đến tay người tiêu dùng.

Giải pháp số hóa toàn diện, nâng tầm thương hiệu quốc gia

quan_1768380262.png
Việc gắn mã truy xuất ngay tại vùng trồng là nền tảng để số hóa chuỗi giá trị nông sản, nâng cao năng lực quản trị và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.

Để khắc phục các điểm nghẽn và nâng cao năng lực quản trị, lộ trình triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc đã được xác lập cụ thể. Trong 6 tháng đầu năm 2026, hệ thống sẽ được thí điểm với sản phẩm sầu riêng, sau đó mở rộng sang các nhóm nông sản chủ lực từ ngày 1/7/2026. Giai đoạn 2027–2030, hệ thống tiếp tục được nâng cấp để quản lý xuyên suốt chuỗi giá trị và kết nối với Cổng truy xuất nguồn gốc quốc gia. Đến năm 2035, mục tiêu là hoàn thiện hệ thống toàn diện, bao phủ toàn bộ sản phẩm và vật tư nông nghiệp.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng khẳng định, hệ thống truy xuất nguồn gốc không chỉ là giải pháp công nghệ mà còn là công cụ quan trọng trong phòng, chống gian lận thương mại và hàng giả. Trong bối cảnh hiện nay, giá trị nông sản không còn được quyết định bởi sản lượng mà bởi chất lượng và mức độ minh bạch thông tin. Việc triển khai dán tem xác thực điện tử QR code cho các lô hàng cho phép người tiêu dùng truy cập trực tiếp vào hệ thống dữ liệu của Bộ để theo dõi toàn bộ hành trình sản phẩm, từ mã vùng trồng đến đơn vị phân phối.

Ở góc độ doanh nghiệp, bà Ngô Tường Vy, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu, khẳng định nền tảng truy xuất nguồn gốc giúp giảm đáng kể rủi ro trong các giao dịch quốc tế. Khi sở hữu đầy đủ các chỉ số dữ liệu, doanh nghiệp có thể chủ động đáp ứng yêu cầu của đối tác, thay vì bị động xử lý sự cố theo từng lô hàng. Đây cũng là cơ sở để nâng cao trách nhiệm của từng khâu và hạn chế tình trạng đứt gãy niềm tin giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hệ thống hiện đang được xây dựng theo hướng giảm tối đa thao tác, cho phép người dân nhập liệu bằng giọng nói và tự động nhận diện qua mã định danh, từng bước thay đổi thói quen ghi chép thủ công. Với những sản phẩm tiềm năng như chanh leo, truy xuất nguồn gốc không còn là lựa chọn mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để ổn định đầu ra. Việc hình thành hệ sinh thái dữ liệu số sẽ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đồng thời giúp các doanh nghiệp Việt Nam tự tin cạnh tranh sòng phẳng với các đối thủ lớn như Thái Lan trên thị trường quốc tế.

Ngành nông nghiệp hiện đang tập trung đầu tư hạ tầng số và xây dựng danh mục nông sản chủ lực bắt buộc truy xuất nhằm hình thành hệ thống liên thông, đồng bộ. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng sẽ tăng cường hợp tác quốc tế, phối hợp với các tổ chức cấp mã số, mã vạch quốc tế, hướng tới việc thừa nhận lẫn nhau về kết quả truy xuất nguồn gốc. Qua đó, giảm trùng lặp thủ tục, rút ngắn thời gian thông quan và tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia xuất nhập khẩu.

Ông Đặng Phúc Nguyên nhấn mạnh, việc ghi chép điện tử đã trở thành yêu cầu bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn duy trì và mở rộng thị phần một cách bền vững. Khi toàn bộ quy trình, từ thu hoạch đến kho lưu trữ, được hiển thị công khai, niềm tin của người tiêu dùng sẽ được củng cố mạnh mẽ. Đây chính là đòn bẩy để chuyển đổi từ phương thức sản xuất truyền thống sang nền nông nghiệp minh bạch, trong đó lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm hệ thống mang lại giá trị thực chất trong quản lý vùng nguyên liệu và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Hoài An