Thị trường gạo khởi sắc, doanh nghiệp Việt đón cơ hội nào?

Thị Trường 12/06/2026 14:57

Biến động của thị trường lương thực toàn cầu đang đặt ngành lúa gạo Việt Nam trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ. Thay vì chạy theo sản lượng, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng, minh bạch quy trình để gia tăng sức cạnh tranh và đón cơ hội xuất khẩu.

Thực trạng ngành gạo đối mặt nhiều rào cản lớn

lua_1781248547.png
Xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 4,5 triệu tấn, thu về 2,09 tỷ USD. Ảnh: Lê Hùng

Sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2026 - 2027 dự báo đạt 537,8 triệu tấn, giảm 5 triệu tấn so với niên vụ trước. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ tăng cao khiến tồn kho toàn cầu giảm xuống còn 192,7 triệu tấn. Tại Việt Nam, xuất khẩu gạo trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 4,5 triệu tấn, thu về 2,09 tỷ USD. Dù khối lượng tăng 6,6%, giá trị lại giảm 3,6% do giá xuất khẩu bình quân chỉ đạt 467,6 USD/tấn, giảm 9,6%. Philippines hiện vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm 46,9% thị phần, trong khi Trung Quốc đứng thứ hai với 17,8% thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Tuy nhiên, các quốc gia này đều áp dụng cơ chế quản lý nhập khẩu chặt chẽ thông qua hạn ngạch và cấp phép. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp đã ký hợp đồng xuất khẩu từ thời điểm giá thấp, nhưng khi thu mua nguyên liệu lại rơi đúng vào giai đoạn giá lúa tăng mạnh. Nghịch lý này tạo ra khoảng cách lớn về lợi nhuận, thậm chí có trường hợp ghi nhận mức lỗ gần 2.000 đồng/kg gạo xuất khẩu. Điều đó phản ánh những hạn chế trong năng lực dự báo thị trường và quản trị nguồn cung của không ít doanh nghiệp khi tham gia chuỗi cung ứng lương thực toàn cầu.

Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, cho biết: "Năm 2026 vẫn sẽ là giai đoạn khó khăn. Có thông tin Philippines sẽ giảm nhập khẩu trong tháng 6 và tháng 7 nhưng cũng có dự báo El Nino có thể khiến sản lượng lúa gạo của nước này giảm tới 700.000 tấn. Vì vậy, DN cần thận trọng trước các tín hiệu khác nhau từ thị trường".

Bà Phan Mai Hương, đồng sáng lập Công ty SSResource Media Pte. Ltd, dẫn chứng về sự khó lường của thị trường này: "Dù Philippines từng tuyên bố chỉ nhập khẩu khoảng 150.000 tấn gạo mỗi tháng vào tháng 4 vừa qua, lượng mua thực tế lên tới 500.000 - 600.000 tấn/tháng". Sự chênh lệch lớn giữa tuyên bố và thực tế nhập khẩu khiến nhiều doanh nghiệp thường xuyên rơi vào thế bị động. Bên cạnh đó, bài toán vốn vẫn là nút thắt lớn khi nông dân còn phụ thuộc nhiều vào tín dụng phi chính thức, khiến chuỗi liên kết dễ đứt gãy nếu dòng tiền bị chậm nhịp.

Chuyển đổi chuỗi giá trị để bứt phá bền vững

luagao_1781248796.png
Ngành gạo Việt Nam tận dụng thời cơ từ biến động nguồn cung toàn cầu nửa cuối năm 2026.

Trong bối cảnh hiện nay, ngành gạo Việt cần chuyển dịch từ tư duy chạy theo sản lượng sang quản trị chất lượng một cách bền vững. Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam, nhấn mạnh: "Điều quan trọng nhất hiện nay là nông dân và doanh nghiệp không nên chạy theo những tín hiệu giá nhất thời. Nếu sản xuất chỉ dựa trên biến động ngắn hạn của thị trường rất dễ dẫn đến mất cân đối cung cầu. Thay vào đó, cần bám sát nhu cầu của thị trường mục tiêu, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định và duy trì chất lượng sản phẩm một cách nhất quán".

Ông Lê Thanh Tùng cũng nhận định: "Với khoảng 3,8 triệu ha đất lúa và hơn 7 triệu ha gieo trồng mỗi năm, việc áp dụng các quy trình canh tác giảm phát thải được kỳ vọng sẽ giúp giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng hạt gạo và gia tăng thu nhập cho nông dân". Định hướng này hoàn toàn phù hợp với xu thế sản xuất lúa gạo xanh và có trách nhiệm. Theo đó, sản xuất lúa phát thải thấp sẽ trở thành điều kiện tiên quyết để gạo Việt thâm nhập và nâng cao sức cạnh tranh tại các thị trường cao cấp.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, truy xuất nguồn gốc cần được xem là hạ tầng quản lý mang tính toàn diện. Ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Lộc Trời, khẳng định: "Hệ thống truy xuất cần bao phủ từ giống, vật tư đầu vào, canh tác đến chế biến và lưu thông. Chỉ khi dữ liệu được kết nối và xác thực đồng bộ với hệ thống dữ liệu quốc gia, cơ quan quản lý mới có thể giám sát sớm các rủi ro về an toàn thực phẩm và chống gian lận thương mại".

Việc đầu tư cho hạ tầng quản lý này tuy làm phát sinh thêm chi phí khoảng 120.000 đồng/người/năm nhưng được đánh giá là khoản đầu tư cần thiết để xây dựng niềm tin thị trường. Đáng chú ý, từ ngày 1/7/2026, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận chủng loại gạo thơm xuất khẩu được hưởng ưu đãi thuế quan theo các Hiệp định EVFTA và UKVFTA sẽ chính thức được phân cấp về UBND cấp tỉnh. Đây được xem là cơ hội để doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ và mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường như EU và Anh. Đồng thời, sự thay đổi này cũng giúp địa phương chủ động hơn trong xác thực nguồn gốc sản phẩm, qua đó chuyển hóa cơ hội thị trường thành giá trị kinh tế thực chất thông qua các liên kết chặt chẽ, góp phần giúp ngành gạo không chỉ giữ vững vị thế mà còn gia tăng giá trị theo hướng bền vững trong giai đoạn phát triển mới.

Mai Hương