Giữ lợi thế thị trường cho cà phê Việt giữa sức ép mới
Lũy kế sáu tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt 4,8 tỷ USD, khẳng định vững chắc vị thế chủ lực. Tuy nhiên, trước sức ép từ nguồn cung toàn cầu cùng rào cản kỹ thuật mới, ngành hàng buộc phải khẩn trương chuyển hướng chiến lược để bảo vệ thị phần.
Sức ép từ nguồn cung và rào cản kỹ thuật
Theo số liệu của Cục Hải quan, tháng 6/2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 126.000 tấn cà phê, thu về trên 580 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,8 tỷ USD, khẳng định vị thế nông sản xuất khẩu chủ lực. Đáng chú ý, khối lượng ghi nhận tăng trưởng hơn 7%, nhưng giá trị thu về chung chịu áp lực lớn do giá xuất khẩu toàn cầu giảm sâu.
Ông Lê Đức Huy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2-9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) đánh giá, bức tranh xuất khẩu cà phê 6 tháng đầu năm nhìn chung khá tích cực khi sản lượng xuất khẩu tăng. Tuy nhiên, giá cà phê thế giới đã giảm so với mức đỉnh của năm trước, khiến tốc độ tăng trưởng kim ngạch không tương xứng với sản lượng. Dù vậy, mặt bằng giá hiện nay vẫn ở mức cao hơn đáng kể so với trung bình nhiều năm.
Theo ông Huy, cán cân cung - cầu cà phê thế giới vẫn đang nghiêng theo hướng hỗ trợ giá, tạo nền tảng để thị trường duy trì ở mức cao trong thời gian tới. Đối với nửa cuối năm, sản lượng xuất khẩu được dự báo sẽ giảm do lượng hàng còn lại trong dân không nhiều, trong khi thị trường phải chờ nguồn cung từ vụ thu hoạch mới. Triển vọng niên vụ tới cũng chưa thực sự khả quan khi thời tiết bất lợi trong các tháng 4 và 5 có thể ảnh hưởng đến năng suất, khiến tổng sản lượng thấp hơn năm trước.
Ở góc độ thị trường, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam cho rằng ngành hàng đang bước vào giai đoạn cạnh tranh gay gắt khi nguồn cung toàn cầu tăng mạnh từ Brazil, trong khi nhu cầu chỉ tăng nhẹ. Vicofa dự báo sản lượng thế giới niên vụ 2025-2026 đạt khoảng 180 triệu bao, tăng gần 8 triệu bao so với niên vụ trước. Khi nguồn cung dồi dào hơn, xu hướng giảm giá nhiều khả năng sẽ tiếp diễn. Brazil tiếp tục mở rộng sản lượng làm gia tăng sức ép cạnh tranh trực diện với Robusta - mặt hàng chủ lực của Việt Nam. Thêm vào đó, quy luật nhiều năm cho thấy lượng xuất khẩu nửa cuối năm luôn thấp hơn nửa đầu năm do yếu tố mùa vụ.
Một trong những vấn đề doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) sẽ chính thức được áp dụng từ cuối năm nay và gần như không còn khả năng tiếp tục gia hạn. Theo ông Lê Đức Huy, các quy định của EUDR hiện đã được đơn giản hóa hơn so với dự thảo ban đầu, song trọng tâm quản lý sẽ chuyển sang khâu hậu kiểm. "Các lô hàng có thể bị giữ lại để kiểm tra và truy xuất nguồn gốc đến từng cây trồng. Vì vậy, nhà nhập khẩu sẽ yêu cầu doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện rất chặt chẽ quy trình truy xuất nguồn gốc", ông Huy cho biết.
Chuyển dịch trục giá trị để giữ vững vị thế
Khảo sát bản đồ tiêu thụ cho thấy sự phân hóa sâu sắc. Tại nhiều khu vực truyền thống, tâm lý thận trọng đang bao trùm do áp lực cạnh tranh. Ngược lại, xuất khẩu sang Italy, Nhật Bản và Nga tiếp tục tăng trưởng tích cực. Riêng khu vực Đông Bắc Á nổi lên là điểm sáng nhờ nhu cầu tiêu dùng gia tăng, sự dịch chuyển thị hiếu cùng sự phát triển mạnh của ngành chế biến sâu và hệ thống phân phối hiện đại, mở ra dư địa lớn cho hạt cà phê.
Ông Huy cũng nhấn mạnh, việc Việt Nam được EU xếp vào nhóm quốc gia có rủi ro thấp là lợi thế rất lớn cần duy trì. Nếu bị chuyển sang nhóm rủi ro cao hơn, hoạt động kiểm tra sẽ nghiêm ngặt hơn, kéo theo chi phí và thời gian thông quan gia tăng. Trong bối cảnh giá cà phê đang ở mức cao, nguy cơ người dân tự phát mở rộng diện tích trồng, thậm chí lấn vào đất rừng không đáp ứng quy định EUDR cũng là vấn đề cần được kiểm soát. Do đó, chính quyền địa phương cần đẩy nhanh việc quản lý, mã hóa vùng trồng; người dân khi mở rộng diện tích mới cần đăng ký để được kiểm tra tính phù hợp trước khi đưa vào sản xuất.
Liên quan đến lo ngại về khả năng chồng lấn dữ liệu vùng trồng giữa các doanh nghiệp khi thực hiện truy xuất nguồn gốc, ông Lê Đức Huy cho rằng đây không phải vấn đề lớn. Theo ông, các doanh nghiệp hiện đều đã đầu tư mạnh vào số hóa dữ liệu và tôn trọng dữ liệu của nhau. Trường hợp một hộ nông dân bán cà phê cho nhiều doanh nghiệp nhưng cùng sử dụng một mã số vùng trồng là hoàn toàn bình thường. Điều quan trọng là tổng khối lượng giao dịch phải phù hợp với năng lực sản xuất thực tế của vùng trồng. Nếu một vùng chỉ sản xuất khoảng 3 tấn cà phê thì tổng lượng bán ra, dù cho một hay nhiều doanh nghiệp, cũng không được vượt quá sản lượng đó.
Đối với việc EU mở rộng phạm vi áp dụng EUDR đối với cà phê chế biến, ông cho biết quy định sẽ có thêm một năm chuyển tiếp trước khi thực thi chính thức. Đây là khoảng thời gian để doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống quản lý. "Doanh nghiệp đã theo đuổi chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong nhiều năm. Nếu đáp ứng được yêu cầu đối với cà phê nhân thì cũng sẽ đáp ứng được đối với cà phê chế biến", ông Huy nói.
Để thích ứng với các thách thức, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam cho rằng ngành hàng cần chuyển mạnh từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao giá trị thông qua phát triển cà phê nhân có chứng chỉ xanh, bền vững và gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu. Hiện khoảng 30% diện tích đã đạt chứng nhận bền vững, tạo nền tảng thuận lợi đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe. Vicofa kiến nghị đẩy mạnh xúc tiến thương mại tại Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Bắc Âu và kết nối chuỗi bán lẻ lớn nhằm củng cố vững chắc đầu ra cho sản phẩm.