Xây dựng thương hiệu nâng tầm mật ong rừng ngập mặn
Mô hình nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy không chỉ tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm mà còn góp phần nâng cao giá trị mật ong. Xây dựng thương hiệu, liên kết chuỗi và truy xuất nguồn gốc đang trở thành nền tảng quan trọng để sản phẩm vươn xa.
Điểm nghẽn trong xây dựng thương hiệu mật ong
Việt Nam sở hữu điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển ngành nuôi ong mật với tổng đàn hiện đạt khoảng 1,3-1,4 triệu đàn và hơn 35.000 hộ tham gia sản xuất. Nhờ hệ sinh thái phong phú từ vùng miền núi đến các cánh rừng ngập mặn ven biển, sản lượng mật ong hằng năm dao động từ 50.000 đến 60.000 tấn. Riêng năm 2024, cả nước thu hơn 57.000 tấn mật và ước đạt gần 59.300 tấn trong năm tiếp theo. Dù đóng góp đáng kể cho xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, ngành ong vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản khi phương thức sản xuất còn mang tính manh mún, quy mô hộ gia đình vẫn chiếm chủ yếu.
Điển hình tại Vườn quốc gia Xuân Thủy, khu vực cửa sông Ba Lạt có lợi thế lớn về nguồn hoa sú, vẹt đặc trưng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi ong sinh thái mang bản sắc riêng. Hiện nay, quy mô khai thác tại đây đạt khoảng 5.000-7.000 đàn, cho sản lượng từ 70-80 tấn mật mỗi năm. Tuy nhiên, hoạt động khai thác của người dân vùng đệm vẫn còn nhỏ lẻ, chịu tác động lớn của thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu, khiến nguồn hoa biến động thất thường. Cùng với đó, việc thiếu các chuỗi liên kết bền vững khiến giá trị mật ong thu được chưa thực sự tương xứng với tiềm năng sinh thái của vùng đất ngập nước này.
Một trong những nút thắt lớn nhất của ngành nuôi ong hiện nay là công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu chưa được đầu tư đúng mức. Đánh giá về những hạn chế này, Trưởng phòng Khuyến nông Chăn nuôi và Thú y (Trung tâm Khuyến nông quốc gia) Nguyễn Thị Hải cho biết nghề nuôi ong ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn do phần lớn sản xuất ở quy mô hộ gia đình; số hộ tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã và chuỗi liên kết còn hạn chế. Việc xây dựng thương hiệu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức; liên kết giữa người nuôi ong, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thật sự bền vững; sản phẩm từ ong chưa được đa dạng hóa, trong khi hoạt động chế biến vẫn chưa đi vào chiều sâu.
Bên cạnh đó, việc kiểm soát chất lượng và an toàn dịch bệnh đối với các đàn ong di chuyển liên tỉnh theo mùa hoa cũng đặt ra không ít thách thức. Sự lỏng lẻo trong khâu truy xuất nguồn gốc và quảng bá hình ảnh khiến sản phẩm mật ong khó tiếp cận các phân khúc thị trường cao cấp. Điều này đòi hỏi ngành nông nghiệp cùng chính quyền địa phương sớm có giải pháp đồng bộ nhằm tổ chức lại sản xuất, từng bước nâng cao sức cạnh tranh cho thương hiệu mật ong nội địa trên thị trường.
Chuẩn hóa quy trình nâng tầm thương hiệu
Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, việc hoàn thiện quy trình kỹ thuật gắn với bảo vệ hệ sinh thái rừng được xác định là định hướng cốt lõi. Tại Vườn quốc gia Xuân Thủy, mô hình khuyến nông nuôi ong ngoại dưới tán rừng ngập mặn triển khai từ năm 2025 với 12 hộ dân tham gia đã chứng minh hiệu quả vượt trội, đạt năng suất bình quân 38 kg/đàn/năm, tăng 26,67% so với nuôi đại trà. Nhờ tuân thủ quy trình sản xuất chuẩn, sản phẩm Mật ong Sú vẹt đã đạt chứng nhận OCOP và nhãn hiệu chứng nhận, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng thương hiệu uy tín.
Đánh giá về hiệu quả của mô hình ứng dụng kỹ thuật mới, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy Vũ Quốc Đạt cho hay: “Năm 2025, với sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Vườn quốc gia triển khai xây dựng và hoàn thiện mô hình nuôi ong để góp phần phát triển thương hiệu mật ong sú vẹt với 12 hộ dân tham gia, năng suất bình quân đạt 38 kg/đàn/năm, tăng 26,67% so với nuôi ong đại trà. Dự án góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện sinh kế cho người dân vùng ven biển. Người dân được tiếp cận kỹ thuật nuôi mới, từng bước thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất theo tiêu chuẩn, có liên kết và truy xuất nguồn gốc”.
Mô hình sản xuất có sự đồng hành của cơ quan chuyên môn cũng mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, đồng thời giúp người nuôi chủ động hơn trong quá trình sản xuất. Chia sẻ về hành trình gắn bó với nghề, anh Phạm Thanh Sơn cho biết: “Tôi làm nghề nuôi ong lấy mật đã lâu nhưng trước đây do chưa có kỹ thuật cho nên chỉ đủ trang trải cuộc sống. Từ khi tham gia vào mô hình nuôi ong lấy mật do Trung tâm Khuyến nông quốc gia hỗ trợ, tôi được tập huấn kỹ thuật, con giống và mật ong có thương hiệu cho nên hiệu quả cao hơn. Gia đình tôi hiện nay đang nuôi 380 đàn ong, mỗi năm thu hoạch khoảng 4 đến 5 tấn mật, cao hơn 20-30% so với trước đây”.
Ở góc độ quản lý ngành chăn nuôi, việc chuyển đổi phương thức quản trị và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ được xem là yêu cầu tất yếu để đưa ngành ong phát triển bền vững. Để phát triển nghề nuôi ong mật, bà Tạ Thị Hương Giang, đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng: “Cần mở rộng, đổi mới các chuỗi liên kết sản xuất sản phẩm, góp phần duy trì bền vững cơ cấu tổng đàn ong mật; nghiên cứu phát triển và hoàn thiện quy trình kỹ thuật chuyển đổi theo lộ trình từ nuôi ong thùng đơn sang nuôi ong thùng kế để nâng cao năng suất, chất lượng mật; đầu tư cho chế biến sâu, đa dạng hóa các sản phẩm từ ong để nâng cao giá trị gia tăng...”.