Phát triển chuỗi giá trị, tạo sức bật cho dược liệu Tây Nguyên
Tây Nguyên có nhiều lợi thế phát triển dược liệu nhờ điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và tài nguyên phong phú. Để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế, khu vực cần tháo gỡ điểm nghẽn về sản xuất, chế biến và liên kết chuỗi.
Tiềm năng rộng mở và những điểm nghẽn thực tế
Tại Diễn đàn “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu khu vực Tây Nguyên” tổ chức ở Pleiku (tỉnh Gia Lai), các đại biểu cho biết, Tây Nguyên hiện có khoảng 2,67 triệu ha đất trồng trọt, dẫn đầu cả nước về sản lượng cà phê, hồ tiêu, bơ và chanh leo; diện tích sầu riêng cũng ngày càng mở rộng. Bên cạnh các cây trồng chủ lực, khu vực còn có tiềm năng phát triển dược liệu nhờ điều kiện khí hậu, độ cao và tri thức bản địa, tạo thuận lợi cho các mô hình nông lâm kết hợp gắn với du lịch sinh thái.
Hiện ba tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng có khoảng 6.168 ha dược liệu, trong đó cây ngắn ngày chiếm 89,9%, tương đương 5.543 ha; cây dài ngày chiếm 10,1%, tương đương khoảng 625 ha. Ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai, cho biết nông nghiệp công nghệ cao mở ra cơ hội nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế trên cùng diện tích canh tác. Tây Nguyên có lợi thế về quỹ đất rộng và khí hậu thuận lợi để hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn. Thực tiễn tại Gia Lai cũng cho thấy hiệu quả rõ nét từ hướng phát triển này.
Tỉnh đã thu hút gần 70 dự án trồng trọt ứng dụng công nghệ cao và cấp chứng nhận đầu tư cho khoảng 204 dự án chăn nuôi công nghệ cao. Trong khi doanh thu bình quân từ sản xuất nông nghiệp thông thường đạt khoảng 120 - 150 triệu đồng/ha, nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao đạt 500 - 700 triệu đồng/ha, thậm chí hàng tỷ đồng/ha. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, việc áp dụng quy trình sản xuất đạt chuẩn, có chứng nhận còn góp phần nâng cao chất lượng, tính đồng đều của sản phẩm và khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu.
Đối với lĩnh vực dược liệu, Gia Lai định hướng phát triển các loại cây có giá trị như mật nhân, hà thủ ô đỏ, cát cánh, cà gai leo và sâm đương quy. Theo kế hoạch, đến năm 2030, tỉnh hướng tới phát triển khoảng 10.000 ha cây dược liệu, đồng thời định hướng phát triển khoảng 31.000 ha dược liệu dưới tán rừng. Bà Nguyễn Thị Anh Nguyên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, cho biết mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng phải bảo đảm yêu cầu bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học. Việc lựa chọn cây trồng, quy mô và phương thức sản xuất cần phù hợp với hiện trạng rừng, tuân thủ quy định pháp luật, đồng thời hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng, doanh nghiệp và người dân.
Tuy nhiên, theo ông Đoàn Hương Sơn, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, dù có nhiều lợi thế tự nhiên, sản xuất nông nghiệp tại Tây Nguyên vẫn còn manh mún, liên kết chuỗi thiếu chặt chẽ và năng lực chế biến sâu hạn chế. Khu vực cũng đang đối mặt với tình trạng thiếu nước tưới, suy thoái đất và dịch hại diễn biến phức tạp.
Riêng trong lĩnh vực dược liệu, sản xuất hiện chủ yếu tập trung vào các loại cây gia vị và dược liệu phổ thông có giá trị gia tăng thấp, trong khi dược liệu quý còn ít và phân bố phân tán. Nguồn giống chưa được chuẩn hóa, chất lượng không đồng đều, các vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn GACP-WHO còn thiếu. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư cao, quy mô sản xuất nhỏ và khả năng tiếp cận công nghệ hạn chế cũng là những rào cản đối với quá trình phát triển ngành dược liệu.
Giải pháp trọng tâm và định hướng phát triển chuỗi giá trị
Trước thực trạng trên, ông Đoàn Hương Sơn nhấn mạnh yêu cầu chuyển trọng tâm từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng, gắn với bảo vệ tài nguyên và giảm phát thải. Các giải pháp trọng tâm gồm đẩy mạnh cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ số, truy xuất nguồn gốc, chuẩn hóa giống và vùng nguyên liệu dược liệu, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.
Cùng với hoàn thiện quy hoạch, quản lý đất đai, nâng cao chất lượng giống và kỹ thuật canh tác, cần chú trọng phát triển chuỗi giá trị, mở rộng thị trường, hoàn thiện chính sách tín dụng, thu hút đầu tư và đào tạo nhân lực. Trong quá trình này, cơ quan quản lý, địa phương, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần phối hợp chuyển giao công nghệ, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn và tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Về phía người dân, việc tuân thủ quy trình kỹ thuật và chủ động tham gia chuỗi liên kết sẽ góp phần nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm.
Từ kinh nghiệm phát triển dược liệu tại miền núi phía Bắc, ông Hoàng Mạnh Ngọc, Phó Chủ tịch Hội đồng Phát triển Nông nghiệp và Dược liệu Quốc gia VCCI (VCAC), cho rằng phát triển dược liệu phải gắn với bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu nhân giống và xây dựng vùng trồng phù hợp, tránh khai thác tận thu. Đồng thời, cần đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã với người dân. Do cây dược liệu có chu kỳ sinh trưởng dài, thời gian thu hồi vốn chậm, ngành cần có chiến lược phát triển theo từng vùng sinh thái, đi kèm chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, tín dụng dài hạn, công nghệ và thị trường, đồng thời tăng cường kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Theo ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu đòi hỏi hệ thống chính sách đồng bộ, ổn định, minh bạch và khả thi, qua đó tạo niềm tin để doanh nghiệp đầu tư dài hạn và huy động nguồn lực xã hội.
Tây Nguyên có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu, song những tiềm năng này khó chuyển hóa thành sức cạnh tranh nếu thiếu môi trường đầu tư thuận lợi và cơ chế liên kết hiệu quả. Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở việc ban hành chính sách mà còn ở khả năng bảo đảm sự kết nối giữa các chính sách, tạo điều kiện để doanh nghiệp triển khai những dự án đồng bộ, hoàn chỉnh.
Trong đó, cần tăng cường liên kết giữa địa phương với doanh nghiệp, giữa khoa học công nghệ với phát triển sản phẩm, giữa nguồn lực đầu tư với thị trường; đồng thời thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, hoàn thiện môi trường đầu tư; doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất, huy động vốn, đổi mới công nghệ và đưa sản phẩm ra thị trường. Đây là những yếu tố quan trọng để từng bước hình thành chuỗi giá trị dược liệu bền vững, phát huy lợi thế của Tây Nguyên và nâng cao giá trị kinh tế cho khu vực.