Lâm Đồng định hình ngành nuôi biển theo hướng công nghiệp công nghệ cao

Diễn biến - Dự báo 11/08/2026 18:22

Với lợi thế 192 km bờ biển, vùng biển rộng và hệ sinh thái đa dạng, Lâm Đồng đang đứng trước cơ hội mở rộng không gian phát triển nghề nuôi biển. Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được kỳ vọng sẽ đưa nghề nuôi biển từ quy mô nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, ứng dụng công nghệ, gắn với chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.

Lâm Đồng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình nuôi biển, từ vùng vũng, vịnh kín, nửa kín ven bờ đến khu vực biển mở. Các địa bàn Phan Rí Cửa, Hòa Thắng, Tân Thành, Mũi Né và đặc khu Phú Quý đang hình thành những vùng nuôi với nhiều đối tượng có giá trị kinh tế như cá bớp, cá mú, cá chim, tôm hùm, sò lông...

Theo ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, bên cạnh những vùng nước ven bờ, địa phương còn có vùng biển mở với điều kiện phù hợp để phát triển nuôi biển. Đặc biệt, vùng biển Lâm Đồng theo quy luật nhiều năm ít chịu tác động trực tiếp của sóng gió, bão tố. Đặc khu Phú Quý nằm ở vùng khơi cũng được đánh giá có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi biển quy mô lớn.

tsvn316-33_1786432615.jpg
Lâm Đồng định hình ngành nuôi biển theo hướng công nghiệp công nghệ cao

Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng chịu sức ép, nuôi biển được xem là một hướng đi quan trọng để tái cơ cấu ngành thủy sản, giảm áp lực khai thác tự nhiên và tạo sinh kế ổn định hơn cho người dân ven biển.

Không chỉ tạo ra sản lượng, nuôi biển còn có lợi thế ở khả năng kiểm soát quá trình sản xuất từ con giống, môi trường, thức ăn đến thu hoạch. Đây là nền tảng quan trọng để truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.

Ông Nguyễn Xuân Lam, Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, cho rằng phát triển nuôi biển gần bờ và xa bờ là xu hướng tất yếu khi nguồn lợi tự nhiên suy giảm, trong khi biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp. Lâm Đồng có ngư trường lớn, lực lượng lao động có truyền thống và kinh nghiệm nghề biển, qua đó có điều kiện thuận lợi để phát triển và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nghề nuôi biển.

Thực tế sản xuất cũng cho thấy một bộ phận ngư dân đang từng bước chuyển từ khai thác sang nuôi biển. Đây là hướng chuyển đổi sinh kế phù hợp trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng hạn chế.

Từ năm 2023, ông Diệp Văn Hùng, xóm 5, thôn Hiệp Đức, xã Phan Rí Cửa, bắt đầu chuyển sang nuôi thủy sản trên biển. Khu vực nuôi của gia đình cách bờ khoảng 1 km, diện tích mặt nước khoảng 2 ha, hiện duy trì 6 lồng nuôi, mỗi lồng khoảng 500 m³. Các đối tượng nuôi gồm cá bớp, cá chim, cá mú và sò lông.

Gia đình ông Hùng tổ chức nuôi theo hình thức gối đầu, thời gian từ khi thả giống đến thu hoạch từ 8 tháng trở lên. Sau ba năm, quy mô sản xuất đã được mở rộng. Theo ông Hùng, điều kiện thời tiết tương đối ổn định, độ mặn phù hợp và nguồn nước sạch giúp thủy sản sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống của cá đạt trên 80%. Trong hai năm đầu, mỗi năm gia đình thu hoạch khoảng 30 tấn hải sản. Sản phẩm sau thu hoạch chủ yếu được thương lái đến tận bè thu mua.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, từ đầu năm 2026 đến nay, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn duy trì ổn định. Các địa phương tập trung chăm sóc diện tích nuôi hiện có, quản lý môi trường và chủ động phòng, chống dịch bệnh. Lũy kế 7 tháng năm 2026, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 3.370 ha, tăng 1,48% so với cùng kỳ năm 2025; sản lượng nuôi trồng đạt hơn 16.320 tấn.

Dù có nhiều lợi thế, nghề nuôi biển tại Lâm Đồng vẫn đối mặt với không ít hạn chế. Quy mô sản xuất còn nhỏ, công nghệ chủ yếu theo phương thức truyền thống, nguồn giống chưa chủ động, liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp còn yếu, trong khi nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nuôi biển còn thiếu.

Để giải quyết những điểm nghẽn này, Lâm Đồng đang từng bước tổ chức lại không gian và phương thức sản xuất. Đề án Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển tỉnh Lâm Đồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2941/QĐ-UBND ngày 31/12/2025, tạo cơ sở quan trọng để nghề nuôi biển phát triển theo hướng bài bản, hiện đại và bền vững.

Đề án được xây dựng trên cơ sở khảo sát, điều tra các điều kiện tự nhiên như độ sâu, sóng, gió, dòng chảy; đồng thời tham vấn các nhà khoa học, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và hộ nuôi biển. Theo ông Nguyễn Văn Chiến, việc nhận diện đầy đủ tiềm năng, lợi thế đặc thù và xây dựng một đề án phát triển nuôi biển bài bản có ý nghĩa chiến lược đối với ngành thủy sản Lâm Đồng. Mục tiêu không chỉ là nâng sản lượng và giá trị sản xuất mà còn chuyển dịch cơ cấu ngành thủy sản, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chuyển đổi sinh kế cho ngư dân và bảo vệ hệ sinh thái vùng biển.

Đến năm 2030, Lâm Đồng đặt mục tiêu duy trì, mở rộng khoảng 100-150 ha nuôi tại các vùng vũng, vịnh kín, nửa kín ven bờ; xây dựng 1-2 khu, cụm công nghiệp nuôi biển tại vùng biển mở; phát triển khoảng 5.000 ha khoanh nuôi nhuyễn thể, hải sản đặc thù và khoảng 50 ha sản xuất giống cá, hải đặc sản.

Theo mục tiêu của Đề án, sản lượng nuôi biển đến năm 2030 dự kiến đạt 50.000-55.000 tấn, chiếm khoảng 22% tổng sản lượng thủy sản của tỉnh. Giá trị sản lượng đạt khoảng 5.000-5.200 tỷ đồng, tương đương 32% giá trị sản xuất toàn ngành thủy sản; giá trị xuất khẩu từ nuôi biển khoảng 50 triệu USD.

Tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh định hướng phát triển mạnh nuôi biển công nghiệp tại vùng biển mở, khoanh nuôi hải đặc sản có kiểm soát và phát triển sản xuất giống phục vụ nuôi biển. Sản lượng nuôi biển dự kiến đạt 128.000-130.000 tấn; giá trị sản xuất nuôi biển chiếm 43-45% giá trị sản xuất toàn ngành thủy sản, trong khi kim ngạch xuất khẩu từ nuôi biển hướng tới khoảng 140 triệu USD. Cùng với mục tiêu về sản lượng và giá trị, Lâm Đồng cũng định hướng chuyển đổi nghề cho khoảng 8.000-10.000 ngư dân khai thác ven bờ sang nuôi trồng, khoanh nuôi hải sản trong giai đoạn đến năm 2045.

Một trong những định hướng trọng tâm của Đề án là chuyển mạnh từ nuôi truyền thống sang nuôi công nghiệp, bán công nghiệp; hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với chuỗi liên kết từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ.

Lâm Đồng cũng khuyến khích sử dụng lồng nuôi hiện đại, ứng dụng công nghệ số trong quản lý môi trường, giám sát sản xuất và truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là điều kiện cần thiết để sản phẩm nuôi biển có thể tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn thực phẩm.

Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Giám đốc kinh doanh Công ty TNHH Hải Triều, kỳ vọng khi các vùng nuôi lớn được hình thành, nguồn gốc và chất lượng hải sản sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn. Khi sản phẩm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, doanh nghiệp sẽ có cơ sở để đầu tư và chủ động nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất.

Theo ông Nguyễn Xuân Lam, để phát triển nuôi biển bền vững, Lâm Đồng cần đồng bộ các nguồn lực về lao động, vốn, thể chế và chính sách khuyến khích đầu tư. Trong đó, quy hoạch không gian biển cần được cụ thể hóa, bảo đảm hài hòa giữa nuôi biển với du lịch, hàng hải, năng lượng và các hoạt động khai thác tài nguyên biển.

Đề án xác định nhiều nhóm giải pháp, gồm giao khu vực biển, tổ chức sản xuất, hoàn thiện cơ chế chính sách, ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng thị trường và xúc tiến thương mại, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đầu tư hạ tầng kỹ thuật và tăng cường hợp tác quốc tế.

Trong đó, chính sách hỗ trợ, hạ tầng, đào tạo nhân lực và khoa học công nghệ được xác định là những yếu tố then chốt để tạo động lực cho người dân và doanh nghiệp đầu tư dài hạn. Các sở, ngành và địa phương sẽ tham gia bố trí vùng nuôi, quản lý môi trường, phòng chống dịch bệnh, xúc tiến thương mại và đào tạo nghề cho ngư dân chuyển đổi từ khai thác ven bờ sang nuôi biển.

Từ những mô hình sản xuất hiện có đến mục tiêu hình thành các vùng nuôi công nghiệp, Lâm Đồng đang từng bước chuyển từ khai thác đơn thuần sang tạo giá trị từ không gian biển. Khi quy hoạch được hoàn thiện, công nghệ được ứng dụng, sản phẩm được kiểm soát và các khâu sản xuất - chế biến - tiêu thụ được liên kết, nghề nuôi biển được kỳ vọng trở thành một ngành kinh tế có giá trị cao, đồng thời góp phần giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ngư dân.

Diệp Bắc