Đề xuất hoàn thiện cơ chế giá điện bảo đảm quyền lợi người sử dụng
Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ nguyên tắc hình thành giá, kiểm soát chi phí và phân bổ rủi ro, đồng thời đánh giá kỹ tác động của giá điện theo giờ và lộ trình xóa bỏ bù chéo.
Chiều 28/9, tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ nhất, các đại biểu tập trung cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Nội dung được quan tâm là hoàn thiện cơ chế giá điện theo hướng minh bạch, kiểm soát chặt chi phí và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng điện. Các đại biểu cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi luật nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển điện lực, bảo đảm đồng bộ hệ thống pháp luật, đồng thời hoàn thiện các quy định của Luật Điện lực năm 2024 và Nghị quyết số 253/2025/QH15 về phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Phòng) cho rằng, cơ chế pháp luật cần đủ sức huy động nguồn lực đầu tư phát triển nguồn và lưới điện, bảo đảm cung cấp điện ổn định và an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, những thay đổi trong cơ chế giá điện cần được xem xét đồng thời từ góc độ quyền lợi của người sử dụng điện và lợi ích chung. Theo đại biểu, dự thảo cần làm rõ những khoản chi phí nào được xác định là hợp lý để thu hồi, rủi ro nào thuộc trách nhiệm của nhà đầu tư và trường hợp nào chi phí có thể được tính vào giá điện mà người dân, doanh nghiệp phải chi trả.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị tiếp tục rà soát, quy định rõ nguyên tắc kiểm soát chi phí, công khai thông tin và phân bổ rủi ro giữa các chủ thể. Phương pháp tính giá, mức lợi nhuận và quy trình cụ thể có thể giao Chính phủ quy định, song cần thiết lập cơ chế kiểm tra, kiểm toán chi phí, loại trừ những khoản chi không hợp lý do quản trị hoặc đầu tư kém hiệu quả. Bên cạnh đó, cần làm rõ phương án xử lý khi chi phí phát sinh có tác động đến giá bán lẻ điện, qua đó tăng tính minh bạch trong quá trình hình thành giá.
Một nội dung khác được đại biểu quan tâm là lộ trình áp dụng giá bán lẻ điện theo giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường đối với khách hàng sinh hoạt khi điều kiện kỹ thuật cho phép, cùng với lộ trình xóa bỏ bù chéo giá điện. Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, những định hướng này có thể góp phần khuyến khích sử dụng điện hiệu quả và phản ánh sát hơn chi phí cung cấp điện. Tuy nhiên, tác động của cơ chế giá mới có thể khác nhau giữa các nhóm hộ gia đình.
Vì vậy, đại biểu đề nghị đánh giá tổng thể tác động của các cơ chế giá thay vì xem xét riêng lẻ. Khi triển khai giá điện theo giờ, hệ thống đo đếm cần bảo đảm chính xác, người sử dụng có khả năng kiểm tra số liệu và hóa đơn, đồng thời được cung cấp đầy đủ thông tin trước khi áp dụng.
Đối với lộ trình xóa bỏ bù chéo giá điện, đại biểu đề nghị đánh giá cụ thể những nhóm khách hàng có khả năng chịu tác động tăng chi phí và nghiên cứu các giải pháp phù hợp. Trước đó, tại phiên thảo luận, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài cho biết việc áp dụng giá điện theo giờ sẽ được xem xét theo lộ trình, với mục tiêu hạn chế tối đa ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân.
Góp ý về cơ chế phát triển dự án và thị trường điện, đại biểu Tô Ái Vang (thành phố Cần Thơ) cho rằng việc hoàn thiện cơ chế cần đồng thời bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh tài chính quốc gia và lợi ích của Nhà nước, nhân dân. Theo đại biểu, dù cơ chế mua bán điện trực tiếp và thị trường điện cạnh tranh đã có những bước tiến, việc xác định giá điện và đàm phán hợp đồng mua bán điện vẫn còn những điểm cần tháo gỡ. Một số dự án nguồn điện lớn chậm triển khai do thiếu khung pháp lý phù hợp, trong khi mô hình mua bán điện hiện nay còn phụ thuộc lớn vào Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
Đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế đặc thù cho một số dự án, trong đó có thể xem xét cam kết tỷ lệ sản lượng điện bao tiêu tối thiểu trong dài hạn và cơ chế chuyển đổi giá nhiên liệu đầu vào trong hợp đồng mua bán điện. Những đề xuất này được đưa ra nhằm tạo thêm cơ sở để thu hút đầu tư, đồng thời phân bổ rủi ro phù hợp giữa các bên trong hợp đồng.
Cũng tại phiên họp chiều 28/9, các đại biểu cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, trong đó tập trung vào việc phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Đại biểu Đặng Ngọc Huy (Quảng Ngãi) cho rằng quy định hộ gia đình, cá nhân phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2025, song việc triển khai tại nhiều nơi vẫn chưa đồng bộ. Theo đại biểu, đây không chỉ là trách nhiệm của người dân mà phải được thực hiện đồng bộ trong toàn bộ chuỗi thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý.
Đại biểu đề nghị dự thảo luật quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý, bảo đảm chất thải sau khi được phân loại không bị trộn lẫn trở lại. Đồng thời, việc phân cấp cần gắn với trách nhiệm giải trình. Chính phủ được đề nghị quy định khung tiêu chí và thời hạn tối thiểu để các địa phương căn cứ triển khai; UBND cấp tỉnh cần công khai lộ trình, phạm vi, phương thức và tiến độ thực hiện. Những địa phương chưa đáp ứng yêu cầu cần công khai nguyên nhân, thời hạn khắc phục và trách nhiệm của các cơ quan liên quan.
Về cơ chế giá dịch vụ, đại biểu Đặng Ngọc Huy đề nghị nghiên cứu nguyên tắc “thải nhiều thì trả nhiều”, trong đó mức chi trả có thể gắn với khối lượng hoặc thể tích, tính chất chất thải và mức độ phân loại. Cơ chế này cần bảo đảm đơn giản, minh bạch và đủ rõ để khuyến khích người dân giảm lượng chất thải phát sinh.
Đại biểu Nguyễn Đặng Ân (Lạng Sơn) cũng nhấn mạnh, khi người dân đã thực hiện phân loại tại nguồn, các khâu thu gom, vận chuyển và xử lý cần tương ứng với kết quả phân loại; nếu chất thải tiếp tục bị trộn lẫn trong quá trình thu gom thì mục tiêu của chính sách sẽ khó đạt được.
Đối với các tỉnh miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, nơi chưa có cơ sở xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu và khó thu hút đầu tư, đại biểu đề nghị Nhà nước ưu tiên hỗ trợ hoặc đầu tư từ ngân sách. Đồng thời, có thể khuyến khích xây dựng các cơ sở xử lý theo mô hình liên địa phương, liên vùng phù hợp với điều kiện thực tế.
Với những dự án xử lý chất thải cần thiết cho yêu cầu bảo vệ môi trường nhưng khó có khả năng thu hồi vốn, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế kết hợp giữa ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác. Ngoài hai dự án luật nêu trên, trong phiên họp chiều 28/9, các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cũng cho ý kiến về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) và dự án Luật Bưu chính (sửa đổi).