Chính phủ ban hành cơ chế đặc thù gỡ vướng pháp lý về phòng, chống rửa tiền
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP, áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong pháp luật về phòng, chống rửa tiền. Các quy định mới tập trung hoàn thiện khung pháp lý về chủ sở hữu hưởng lợi, minh bạch thông tin, nhận diện khách hàng và quản lý rủi ro, qua đó đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện các cam kết quốc tế về trao đổi thông tin thuế.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP ngày 24/7/2026 về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xử lý những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật về phòng, chống rửa tiền. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 24/7/2026 đến hết ngày 28/2/2027.
Việc ban hành nghị quyết nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện các cam kết quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu về thuế, đồng thời tăng cường tính minh bạch của hệ thống tài chính và nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền.
Theo đó, Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 và Nghị định số 19/2023/NĐ-CP, tập trung vào các nội dung như khái niệm chủ sở hữu hưởng lợi, quy định nhận biết và xác minh khách hàng, minh bạch thông tin đối với thỏa thuận pháp lý, tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi, phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro và tần suất cập nhật thông tin khách hàng.
Một trong những điểm đáng chú ý là việc bổ sung khoản 4 vào Điều 10 của Luật Phòng, chống rửa tiền, yêu cầu các đối tượng báo cáo thu thập thêm thông tin trong những trường hợp cụ thể. Đối với khách hàng tham gia thỏa thuận pháp lý dưới hình thức ủy thác, tổ chức báo cáo phải thu thập đầy đủ thông tin về bên ủy thác, bên nhận ủy thác, người thụ hưởng hoặc nhóm người thụ hưởng, người giám sát (nếu có), cá nhân có quyền kiểm soát cuối cùng và các bên liên quan khác.
Với các thỏa thuận pháp lý có bản chất tương tự ủy thác, nghĩa vụ thu thập thông tin cũng được áp dụng đối với tất cả các bên giữ vai trò tương đương. Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, tổ chức báo cáo phải xác định và thu thập thông tin về người thụ hưởng ngay khi người này được chỉ định. Riêng trường hợp bảo hiểm nhóm, việc xác minh thông tin sẽ được thực hiện tại thời điểm chi trả quyền lợi bảo hiểm.
Nghị quyết cũng sửa đổi toàn diện Điều 22 của Luật Phòng, chống rửa tiền về minh bạch thông tin của thỏa thuận pháp lý. Theo quy định mới, bên nhận ủy thác có trách nhiệm thu thập, cập nhật thông tin nhận dạng của bên ủy thác, bên nhận ủy thác, người thụ hưởng, người giám sát và cá nhân có quyền kiểm soát cuối cùng đối với ủy thác.
Trong trường hợp các bên liên quan là pháp nhân hoặc một thỏa thuận pháp lý khác, thông tin phải bao gồm cả dữ liệu về chủ sở hữu hưởng lợi của các chủ thể này. Ngoài ra, các bên nhận ủy thác còn phải lưu giữ thông tin về các đại lý hoặc nhà cung cấp dịch vụ có liên quan (nếu có). Toàn bộ dữ liệu phải được lưu trữ tối thiểu 5 năm kể từ khi chấm dứt tham gia thỏa thuận pháp lý.
Nghị quyết cũng trao quyền cho Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động quản lý, điều tra, truy tố và xét xử được yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp các thông tin liên quan khi cần thiết. Một nội dung quan trọng khác là việc sửa đổi Điều 7 Nghị định số 19/2023/NĐ-CP về tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi.
Đối với khách hàng là tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên sẽ được xác định là chủ sở hữu hưởng lợi. Quy định cũng yêu cầu các tổ chức báo cáo phải rà soát toàn bộ cấu trúc sở hữu nhiều tầng để xác định đúng cá nhân kiểm soát cuối cùng.
Trường hợp không xác định được chủ sở hữu hưởng lợi theo tỷ lệ sở hữu hoặc có dấu hiệu nghi ngờ, tổ chức báo cáo phải xác định cá nhân thực tế kiểm soát doanh nghiệp thông qua quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm lãnh đạo, quyết định chiến lược tài chính, đầu tư, cơ cấu tổ chức hoặc các quyền kiểm soát khác theo quy định của pháp luật.
Nếu vẫn không xác định được cá nhân kiểm soát cuối cùng, chủ sở hữu hưởng lợi sẽ được xác định là người giữ vị trí quản lý cấp cao có thẩm quyền lớn nhất trong tổ chức, ngoại trừ trường hợp đại diện phần vốn nhà nước. Đối với doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán trong và ngoài nước, tổ chức báo cáo được phép sử dụng thông tin chủ sở hữu hưởng lợi đã được công bố theo quy định.
Nghị quyết cũng quy định rõ việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi đối với các quỹ được thành lập theo pháp luật nước ngoài, các thỏa thuận pháp lý dưới hình thức ủy thác hoặc có bản chất tương tự ủy thác. Theo đó, chủ sở hữu hưởng lợi có thể bao gồm người ủy thác, người nhận ủy thác, người thụ hưởng, người giám sát hoặc bất kỳ cá nhân nào có quyền kiểm soát cuối cùng đối với quỹ hoặc thỏa thuận pháp lý.
Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, chủ sở hữu hưởng lợi được xác định là cá nhân thực tế được hưởng quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 24/7/2026 đến hết ngày 28/2/2027, tạo cơ sở pháp lý để tháo gỡ các vướng mắc trước mắt, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền và minh bạch tài chính.