Cần thêm bệ đỡ giúp nông sản an toàn vươn xa

Sản phẩm • 30/09/2026 15:17

Làm ra một sản phẩm nông sản an toàn đã khó, đưa sản phẩm ấy đến tay người tiêu dùng lại là câu chuyện khác. Với nhiều hợp tác xã (HTX), hành trình từ ruộng đồng đến siêu thị, cửa hàng hay các kênh bán hàng hiện đại vẫn gặp không ít trở ngại.

Xoay sở tìm hướng

Mỗi ngày, bà Đặng Thị Hiên (sinh năm 1948), một hộ sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP tại khu vực Đầm Sen Đồng Hoàng (phường Yên Nghĩa), cùng các thành viên trong gia đình đều phải ghi chép chi tiết quá trình sản xuất của từng luống rau, từ mã lô thuốc sử dụng đến thời gian phun, thời gian cách ly...

Sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP giúp sản phẩm có thêm cơ hội tiếp cận những kênh tiêu thụ ổn định, đồng thời mang lại thu nhập tốt hơn. Tuy nhiên, với những nông dân lớn tuổi như bà Hiên, yêu cầu ghi chép, lưu trữ và hoàn thiện hồ sơ cũng là một áp lực không nhỏ.

htx-nong-nghiep-xanh-hoang-gia2-1-.jpg
Ông Nguyễn Văn Lai, thành viên sáng lập HTX Nông nghiệp xanh Hoàng Gia (phường Chương Mỹ), mong muốn chính sách hỗ trợ sát hơn với nhu cầu thực tế của HTX và người sản xuất, nhất là đào tạo, nâng cao năng lực, ứng dụng công nghệ và đơn giản hóa thủ tục. Ảnh: Thảo Nguyên

Câu chuyện của bà Hiên cũng là “bài toán” mà nhiều HTX, cơ sở sản xuất nông nghiệp đang phải tìm cách giải quyết khi muốn đưa sản phẩm ra khỏi những thị trường tiêu thụ truyền thống.

Theo bà Đào Thị Lương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc HTX Tâm Anh, trước đây, khi sản phẩm chưa có các chứng nhận, nông sản của HTX chủ yếu được tiêu thụ tại các chợ dân sinh, đầu ra vì thế thiếu ổn định.

Bà Đào Thị Lương rút ra kinh nghiệm rằng muốn đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, trường học, khu công nghiệp… thì bắt buộc HTX phải đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, VietGAP, OCOP... Tuy nhiên, để đáp ứng những yêu cầu này, HTX gần như phải tự tìm hiểu và thực hiện từ đầu đến cuối, từ nắm quy định, chuẩn bị hồ sơ đến hoàn thiện các thủ tục liên quan.

Không chỉ mất nhiều công sức hoàn thiện hồ sơ, HTX còn phải đầu tư cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu sản xuất. Theo bà Đào Thị Lương, riêng một sào rau trồng trong nhà kính có thể cần khoảng 200 triệu đồng đầu tư ban đầu. Ngoài ra còn có chi phí cho hệ thống nước, phân bón, nhân công và việc ghi chép, theo dõi quá trình sản xuất hằng ngày. Với sản phẩm OCOP, các yêu cầu cũng không dừng ở chất lượng sản phẩm. HTX còn phải hoàn thiện thêm nhiều thủ tục, trong đó có đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ. Những yêu cầu này khiến quá trình hoàn thiện sản phẩm mất thêm thời gian và phát sinh thêm chi phí.

Thực tế, nhiều HTX, cơ sở sản xuất đã chú trọng nâng cao chất lượng và tuân thủ các yêu cầu trong quá trình sản xuất, nhưng khi đưa sản phẩm ra thị trường lại gặp không ít khó khăn. Họ còn thiếu kinh nghiệm làm việc với các hệ thống phân phối, chưa biết cách xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm; trong khi tiền đầu tư cho những khâu như bảo quản, sơ chế, đóng gói, kho lạnh, tem nhãn... vẫn còn hạn chế. Vì vậy, sản phẩm làm ra tốt nhưng để đưa được đến những thị trường lớn, ổn định vẫn là một bài toán không dễ.

Cần “bệ đỡ” để phát triển

Từ thực tế sản xuất, có thể thấy để phát triển rau sạch, rau an toàn một cách bền vững, các HTX không thể chỉ dựa vào sự cố gắng của mình. Họ cần được hỗ trợ từ nhiều phía, từ quy hoạch vùng sản xuất, ứng dụng công nghệ, nguồn vốn đến kết nối thị trường và các chính sách hỗ trợ phù hợp.

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tính riêng năm 2025, cả nước có khoảng 1,15 triệu ha trồng rau, nhưng diện tích được chứng nhận VietGAP mới chỉ hơn 8.000ha, tương đương khoảng 0,7%. Con số này cho thấy sản xuất rau theo các tiêu chuẩn an toàn vẫn còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng diện tích trồng rau.

Tại Hà Nội, theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội), thành phố hiện duy trì khoảng 1.700ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Trong đó, diện tích rau VietGAP khoảng 429ha, rau được chứng nhận hữu cơ khoảng 149ha và 63,2ha đang trong quá trình chuyển đổi theo hướng hữu cơ.

_dsc7884.jpg
Bà Đặng Thị Hiên, hộ sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP tại khu vực Đầm Sen Đồng Hoàng (phường Yên Nghĩa), chăm sóc rau. Ảnh: Thảo Nguyên

Ông Nguyễn Văn Lai, thành viên sáng lập HTX Nông nghiệp xanh Hoàng Gia (phường Chương Mỹ), cho biết: Hiện nhu cầu đối với rau sạch, rau an toàn trên thị trường ngày càng lớn. Tuy nhiên, để đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, HTX phải đáp ứng nhiều yêu cầu, từ hóa đơn đầu vào, đầu ra đến chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, an toàn thực phẩm và tem truy xuất nguồn gốc.

Theo ông Lai, để sản xuất rau an toàn phát triển lâu dài, trước hết cần thay đổi nhận thức, tư duy và tập quán sản xuất của người nông dân. Nhưng chỉ sự thay đổi đó là chưa đủ. Doanh nghiệp, nhà phân phối, đơn vị tiêu thụ và cơ quan quản lý cũng cần cùng tham gia để hình thành chuỗi sản xuất, tiêu thụ ổn định.

Trong đó, chính sách hỗ trợ cần sát hơn với nhu cầu thực tế của HTX và người sản xuất, tập trung vào những việc thiết thực như đào tạo, nâng cao năng lực, hỗ trợ ứng dụng công nghệ, đơn giản hóa các thủ tục, đầu tư cơ sở vật chất và kết nối với các kênh tiêu thụ. Khi những “mắt xích” này được kết nối, rau sạch mới có thể đi xa hơn từ đồng ruộng đến thị trường.

Thực tế cho thấy, khi sản xuất được tổ chức bài bản, các tiêu chuẩn được thực hiện thực chất, thủ tục được đơn giản hóa và thị trường được kết nối thông suốt, người sản xuất sẽ có thêm một “bệ đỡ” để phát triển. Khi đó, rau an toàn không chỉ có cơ hội mở rộng diện tích, mà còn từng bước tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng, nâng cao giá trị sản phẩm và mang lại thu nhập ổn định, bền vững cho người sản xuất.

Nguồn: Theo Báo Hànộimới