Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính
Chiều 28/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chủ trì buổi làm việc với Ban Nội chính Trung ương cùng các cơ quan liên quan để bàn giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ giải quyết các vụ án dân sự, hành chính hiện nay.
Phát biểu kết luận tại buổi làm việc với Ban Nội chính Trung ương và các cơ quan liên quan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: Công tác giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính và thi hành án có vai trò đặc biệt quan trọng. Công tác này tác động trực tiếp đến uy tín của Đảng, Nhà nước, niềm tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống hằng ngày của người dân và hoạt động của doanh nghiệp.
Bên cạnh việc ghi nhận những chuyển biến tích cực trong công tác hòa giải, đối thoại, kiểm sát, thi hành án và xử lý các vụ việc phức tạp tồn đọng thời gian qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước thẳng thắn chỉ rõ vẫn còn nhiều vướng mắc, nội dung tồn đọng chưa phản ánh hết thực tế hoặc chưa đạt kỳ vọng. Để khắc phục triệt để, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã đưa ra 7 định hướng chiến lược và yêu cầu trọng tâm trong thời gian tới:
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và thực chất trong kiểm soát quyền lực
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính và thi hành án. Cấp ủy, tổ chức Đảng và người đứng đầu phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời phát hiện những tồn đọng kéo dài, sơ hở dễ phát sinh sai phạm, tiêu cực.
Lãnh đạo đúng nguyên tắc tuyệt đối không can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử; không được lấy lý do độc lập xét xử để buông lỏng lãnh đạo, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực; tăng cường giám sát của cơ quan dân cử và của Đảng theo hướng thực chất hơn, toàn bộ hệ thống chính trị cùng vào cuộc.
2. Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật theo hướng tổng thể
Tránh sửa đổi nhỏ lẻ: Yêu cầu rà soát tổng thể toàn hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp và thi hành án thay vì sửa đổi cục bộ từng luật riêng lẻ, nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân được bảo vệ một cách liên tục.
Minh bạch hóa quy trình tư pháp: Làm rõ các cơ chế cốt lõi như thu thập, cung cấp, đánh giá chứng cứ; công tác giám định, định giá; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quy trình phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và trách nhiệm thi hành án.
Đảm bảo tính dứt điểm: Các bản án hành chính có sai sót phải được sửa đổi đúng căn cứ, trình tự để đảm bảo tính ổn định. Khi quyết định đã có hiệu lực pháp luật, không được để vụ việc kéo dài vô căn cứ; mỗi tranh chấp đều phải có điểm kết thúc.
3. Tối ưu hóa quy trình giải quyết tranh chấp từ sớm, từ xa
Hoàn thiện hệ thống giải quyết nhiều tầng: Chú trọng làm tốt công tác phòng ngừa trước khi tranh chấp chuyển hóa thành vụ án tại tòa. Phát triển hệ thống giải quyết tranh chấp đa tầng, thuận tiện với chi phí hợp lý.
Đa dạng hóa phương thức: Phát huy tối đa các giải pháp thương lượng, hòa giải, trọng tài trên tinh thần tự nguyện, đúng pháp luật và không hạn chế quyền khởi kiện của công dân. Nghiên cứu nâng cao hiệu lực pháp lý của cơ chế hòa giải, đối thoại tại tòa án.
Vai trò của Tòa án: Tòa án là chỗ dựa tin cậy của công lý nhưng không nhất thiết phải là cánh cửa đầu tiên tiếp nhận mọi tranh chấp.
4. Nâng cao chất lượng thực chất của các cơ quan tư pháp và thi hành án
Đối với Tòa án: Đặt chất lượng và kết quả thực chất lên trên số lượng. Khắc phục triệt để tình trạng án kéo dài, xét xử nhiều lần, hoặc hủy/sửa án do nguyên nhân chủ quan. Nâng cao năng lực xét xử trong các lĩnh vực mới phát sinh và phức tạp.
Đối với Thi hành án: Coi thi hành án là một phần hữu cơ, không thể tách rời của quá trình thực thi công lý. Quyền và lợi ích hợp pháp trong bản án phải được thực thi trên thực tế mới là kết quả cuối cùng. Tập trung xử lý dứt điểm các án có điều kiện thi hành nhưng chậm thực hiện; kiểm soát chặt chẽ khâu xác minh tài sản, kê biên, định giá, đấu giá và cưỡng chế. Thiết lập cơ chế phản hồi từ cơ quan thi hành án trở lại tòa án đối với các bản án tuyên không rõ, khó thi hành.
Đối với Viện kiểm sát: Nâng cao chất lượng kiểm sát, chủ động phát hiện để kiến nghị, kháng nghị kịp thời các sai sót. Từ thực tiễn, phải phát hiện những bất cập mang tính hệ thống để kiến nghị khắc phục từ gốc, đặc biệt là nâng cao chất lượng giải quyết án hành chính để bảo đảm mọi công dân thực sự bình đẳng trước pháp luật.
5. Xóa bỏ tình trạng chia cắt, đùn đẩy và mở rộng hợp tác quốc tế
Cơ chế phối hợp liên ngành: Khắc phục triệt để tình trạng chia cắt giữa các cơ quan và các khâu theo kiểu "mỗi cơ quan chịu trách nhiệm một đoạn", tránh việc từng ngành hoàn thành chỉ tiêu nhưng vụ việc của dân vẫn không kết thúc. Làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa Tòa án, Viện Kiểm sát, cơ quan thi hành án, công an, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý chuyên ngành (đất đai, ngân hàng, thuế, giám định...).
Trách nhiệm rõ ràng: Việc thuộc thẩm quyền của cơ quan nào thì cơ quan đó phải chủ động giải quyết dứt điểm, không đùn đẩy, không chờ đợi lẫn nhau, đồng thời thiết lập cơ chế phản hồi thông tin giữa các khâu.
Hội nhập quốc tế: Chủ động mở rộng hợp tác quốc tế trong giải quyết các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài; nâng cao hiệu quả tương trợ tư pháp; công nhận và thi hành các bản án, phán quyết của trọng tài nước ngoài; tiếp thu có chọn lọc các chuẩn mực quốc tế phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
6. Đảm bảo nguồn lực tương xứng và đẩy mạnh chuyển đổi số
Phát triển nguồn nhân lực: Rà soát thực chất số lượng, chất lượng và khối lượng công việc của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên để bố trí hợp lý theo địa bàn và lĩnh vực. Chú trọng đào tạo chuyên sâu về kỹ năng xét xử, kiểm sát, kiến thức kinh tế và năng lực ứng dụng công nghệ. Bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất, phương tiện và kinh phí hoạt động.
Chuyển đổi số toàn diện: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và quản trị bằng dữ liệu. Mục tiêu không dừng lại ở việc số hóa hồ sơ giấy, mà phải thay đổi căn bản phương thức quản lý, kiểm soát toàn bộ quy trình; từng bước hình thành hệ thống dữ liệu liên thông từ khâu tiếp nhận, thụ lý, xét xử, kiểm sát cho đến thi hành án.
7. Phòng ngừa tiêu cực từ sớm, từ xa và hành động ngay
Nhận diện nguy cơ tham nhũng, lãng phí: Phải nhận diện đầy đủ các nguy cơ tiêu cực trong từng công đoạn để chủ động phòng ngừa, không đợi sai phạm xảy ra mới kiểm tra, xử lý. Tập trung kiểm soát chặt chẽ các khâu dễ phát sinh tiêu cực; kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi can thiệp, tác động trái pháp luật nhằm làm sai lệch kết quả vụ án.
Cơ chế kiểm soát chặt chẽ: Xây dựng cơ chế vận hành tư pháp theo hướng "khó can thiệp, khó móc nối, khó che giấu và dễ phát hiện, dễ kiểm tra, dễ truy cứu trách nhiệm".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các cơ quan khẩn trương bắt tay vào thực hiện các nhiệm vụ: "Việc đã rõ thì làm ngay, việc còn vướng chủ động tháo gỡ, không đùn đẩy, không chờ đợi lẫn nhau". Mỗi nhiệm vụ cần xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm đầu ra và tiến độ cụ thể.
Ban Nội chính Trung ương chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc chung, định kỳ tổng hợp báo cáo Ban Chỉ đạo hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật, Thường trực Bộ Chính trị và Ban Bí thư để kịp thời chỉ đạo.