Vươn ra đại dương, mở không gian tăng trưởng mới cho kinh tế Việt Nam

Diễn biến - Dự báo 07/08/2026 16:58

Khi dư địa nuôi trồng thủy sản trên đất liền ngày càng hạn chế, biển đang được nhìn nhận như một “cánh đồng cuối cùng” để mở rộng không gian sản xuất. Chuyển từ nuôi ven bờ sang canh tác biển quy mô công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và gắn với các ngành kinh tế biển khác được kỳ vọng tạo động lực mới cho tăng trưởng xanh và bền vững.

Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh xác định rõ mục tiêu phát huy lợi thế biển, đưa kinh tế biển trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Trong định hướng đó, nuôi biển được xem là một trong những trụ cột mới của kinh tế biển, với mục tiêu giá trị sản xuất tăng bình quân khoảng 8% mỗi năm và chiếm 15% giá trị toàn ngành thủy sản.

Đây được xem là bước chuyển quan trọng về tư duy phát triển khi Việt Nam không chỉ khai thác nguồn lợi tự nhiên từ biển mà từng bước tổ chức sản xuất, nuôi dưỡng và tạo giá trị bền vững trên không gian đại dương. Liên Hợp Quốc từng gọi thế kỷ XXI là “thế kỷ của biển và đại dương”, trong đó canh tác biển được nhìn nhận như một trong những không gian sản xuất còn nhiều dư địa. Với hơn 3.260 km bờ biển, trên 1 triệu km² vùng đặc quyền kinh tế và hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi biển quy mô lớn.

nuoi-trong-thuy-san-tren-bien_1786091155.jpg
Vươn ra đại dương, mở không gian tăng trưởng mới cho kinh tế Việt Nam

Theo tính toán của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), các quốc gia có biển có thể sử dụng ít nhất 0,1% diện tích vùng đặc quyền kinh tế để nuôi cá biển, với năng suất trung bình khoảng 9.000-12.000 tấn/km²/năm.

Với điều kiện tự nhiên hiện có, Việt Nam có thể phát triển sản lượng cá biển ở quy mô hàng triệu tấn mỗi năm, bên cạnh tiềm năng rất lớn từ nhuyễn thể, rong biển và các đối tượng nuôi khác. “Cánh đồng cuối cùng” vì thế không chỉ mở rộng không gian sản xuất thủy sản mà còn tạo điều kiện hình thành những mô hình kinh tế đa ngành trên biển.

Theo ông Nguyễn Hữu Dũng, nuôi biển công nghiệp có thể kết hợp với du lịch, điện gió ngoài khơi, dầu khí và các ngành kinh tế biển khác, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng không gian biển. Đặc biệt, tư duy về nuôi biển cũng cần được mở rộng từ “nuôi cá” sang “nuôi nước”. Nghĩa là hoạt động sản xuất phải gắn với bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên biển.

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, cả nước hiện có 21 tỉnh, thành phố giáp biển. Đây là nền tảng quan trọng để tổ chức lại không gian phát triển kinh tế biển, trong đó có nuôi trồng thủy sản. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh với không gian biển mở rộng từ Cần Giờ đến Côn Đảo được đánh giá có dư địa lớn để phát triển đồng thời cảng biển, logistics, du lịch và nuôi biển công nghiệp.

Theo bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc STP Group, Thành phố có cơ hội quy hoạch nghề nuôi biển theo hướng hiện đại ngay từ đầu. Khu vực Côn Đảo có môi trường biển còn tương đối tốt, hệ sinh thái đa dạng và lượng khách du lịch lớn, phù hợp phát triển mô hình nuôi biển công nghệ cao kết hợp du lịch trải nghiệm.

STP Group đang đề xuất phát triển vùng nuôi biển khoảng 100 ha tại Côn Đảo theo hướng xây dựng chuỗi giá trị khép kín, kết hợp sản xuất với du lịch và bảo vệ môi trường. Mô hình này nếu được triển khai hiệu quả không chỉ tạo sinh kế cho người dân mà còn có thể hình thành sản phẩm du lịch mới, đưa nghề nuôi biển trở thành một phần của hệ sinh thái kinh tế địa phương. Tuy nhiên, để nuôi biển thực sự trở thành ngành kinh tế quy mô lớn, Việt Nam cần vượt qua một thực tế: phần lớn hoạt động nuôi biển hiện vẫn tập trung ở vùng ven bờ với quy mô nhỏ.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có hơn 6.500 cơ sở nuôi cá biển ven bờ với khoảng 244.000 lồng bè. Trong khi đó, nuôi biển xa bờ mới có 27 cơ sở với 137 lồng bè. Sự chênh lệch này cho thấy khoảng cách rất lớn giữa tiềm năng của biển và năng lực tổ chức sản xuất hiện nay. Áp lực môi trường, dịch bệnh và xung đột không gian với du lịch, cảng biển và các hoạt động kinh tế khác đang khiến mô hình nuôi ven bờ ngày càng bộc lộ hạn chế.

Bên cạnh đó, nhiều cơ sở vẫn sử dụng lồng bè bằng gỗ, tre; nguồn giống còn phụ thuộc nhập khẩu; thức ăn tươi được sử dụng phổ biến; chuỗi liên kết từ con giống, thức ăn, nuôi trồng đến chế biến và tiêu thụ chưa hoàn chỉnh.

Theo ông Nguyễn Hữu Dũng, nếu tiếp tục duy trì phương thức nuôi nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch và thiếu liên kết chuỗi, nghề nuôi biển sẽ khó tạo ra bước đột phá. Vì vậy, chuyển từ nuôi ven bờ sang nuôi biển công nghiệp phải đi cùng với đổi mới hạ tầng và công nghệ.

Theo ông Trần Thanh Trí, Quản lý kinh doanh khu vực miền Nam STP Group, lồng bè bằng gỗ có tuổi thọ thấp, dễ hư hỏng khi gặp thời tiết cực đoan và phát sinh chi phí bảo dưỡng lớn. Trong khi đó, lồng nuôi bằng vật liệu HDPE có tuổi thọ khoảng 50 năm, khả năng chịu sóng gió tốt hơn và phù hợp với việc mở rộng vùng nuôi ra xa bờ.

Cùng với vật liệu mới, các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, quan trắc môi trường tự động, cảnh báo sớm, truy xuất nguồn gốc và giám sát lồng bè có thể giúp người nuôi chủ động kiểm soát rủi ro, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Ông Nguyễn Phương Đông, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn, cho rằng việc sử dụng vật liệu bền vững, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường sẽ vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa tạo điều kiện để sản phẩm nuôi biển đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.

Doanh nghiệp đang nghiên cứu, phát triển các mô hình nuôi biển hiện đại và mở rộng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, phục vụ nhu cầu phát triển nuôi biển tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Công nghệ và hạ tầng chỉ là một phần của bài toán. Để hình thành ngành nuôi biển công nghiệp, Việt Nam cần đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn về quy hoạch, chính sách và vốn.

Theo Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, trước hết cần hoàn thiện chính sách giao biển cho người dân, tạo điều kiện tiếp cận tín dụng dài hạn và xây dựng cơ chế bảo hiểm phù hợp với đặc thù nuôi biển. Đây là những điều kiện quan trọng để giảm rủi ro, tạo niềm tin cho doanh nghiệp và thúc đẩy đầu tư vào các trang trại nuôi biển quy mô lớn, đặc biệt ở vùng xa bờ.

Cùng với đó, cần đẩy nhanh quy hoạch không gian biển, phân vùng sản xuất tập trung theo từng nhóm đối tượng nuôi dựa trên điều kiện tự nhiên, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn và đồng nhất về chất lượng. Việc xây dựng các “làng nuôi biển hiện đại” cũng cần được đặt trong tổng thể chuỗi giá trị, từ con giống, thức ăn, công nghệ nuôi, hậu cần, logistics đến chế biến và xuất khẩu.

Đặc biệt, quy hoạch nuôi biển phải được thực hiện đồng bộ với quy hoạch du lịch, điện gió ngoài khơi, cảng biển và các ngành kinh tế biển khác nhằm hạn chế xung đột trong sử dụng không gian biển. Khi các ngành cùng được tổ chức trong một không gian quy hoạch thống nhất, biển không chỉ tạo ra sản phẩm thủy sản mà còn trở thành nền tảng cho một hệ sinh thái kinh tế đa ngành.

Theo ông Nguyễn Hữu Dũng, đã đến lúc cần thay đổi căn bản tư duy phát triển nghề nuôi biển, từ tư duy khai thác sang tư duy canh tác, trong đó bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và các giá trị tự nhiên phải được xem là một phần của quá trình sản xuất. Đây cũng là điều kiện để nuôi biển phát triển theo hướng xanh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường xuất khẩu.

Với lợi thế về cảng biển, công nghiệp chế tạo, logistics và khoa học công nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh được kỳ vọng không chỉ phát triển vùng nuôi mà còn trở thành trung tâm sản xuất thiết bị, vật tư, dịch vụ hậu cần và chuyển giao công nghệ cho ngành nuôi biển khu vực phía Nam.

Khi đó, giá trị của nuôi biển không chỉ nằm ở sản lượng thủy sản mà còn được mở rộng sang công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ logistics, công nghệ, chế biến, du lịch và xuất khẩu. Đại dương đang dần trở thành một không gian sản xuất mới của nền kinh tế. Chuyển từ “khai thác” sang “canh tác”, từ “nuôi ven bờ” sang “vươn ra đại dương” sẽ giúp Việt Nam khai thác hiệu quả hơn lợi thế biển, đồng thời mở thêm dư địa cho tăng trưởng xanh.

Nếu được đầu tư đồng bộ về quy hoạch, công nghệ, hạ tầng, vốn và chuỗi giá trị, “cánh đồng cuối cùng” ngoài khơi có thể trở thành một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam xây dựng nền kinh tế biển hiện đại, xanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Diệp Chi