Vị thuốc quen thuộc từ hoè hoa trong y học cổ truyền
Gắn liền với không gian quen thuộc của làng quê và đình chùa, hoa hòe từ lâu đã trở thành vị thuốc quý trong y học cổ truyền. Tuy nhiên, đằng sau sự gần gũi ấy là những nguyên tắc sử dụng chặt chẽ theo tư vấn chuyên gia nhằm đảm bảo hiệu quả và an toàn tuyệt đối cho người bệnh.
Đặc điểm sinh học và công dụng của hoa hòe theo y học cổ truyền
Hoa hòe là cây thân gỗ, vỏ sùi được trồng nhiều ở Trung Bộ, phân tán không thành vườn thành rừng như các loài cây dược liệu khác. Hoa có màu vàng nhạt, nhỏ như những búp cây, gần gũi với cảnh sắc khuôn viên đình chùa, vườn nhà vừa làm cây cảnh, vừa làm cây hóng mát. Hoa hòe còn gọi là hòe mễ, hòe hoa mễ, hòe hoa; tên khoa học là Sophora japonica L.. Mùa hoa từ tháng 7-9 âm lịch, cây sống lâu, sau 3-4 năm mới thu hoạch và chỉ nụ non mới có tác dụng làm thuốc chữa bệnh.
Trong y học cổ truyền, hòe hoa là nụ hoa chưa nở của cây hòe, có vị đắng, tính hơi hàn, là vị thuốc giải nhiệt, có tính kháng sinh không độc hại, được dân gian tin dùng. Theo lý luận Đông y, hoa hòe có tác dụng lương huyết, chỉ huyết và thanh can. Vị thuốc này thường được bác sĩ chỉ định trong các bài thuốc nhằm hỗ trợ cải thiện các trường hợp chảy máu cam, đại tiện ra máu, trĩ ra máu, ho ra máu, phụ nữ rong kinh, băng huyết.
Bên cạnh đó, hòe hoa còn được ứng dụng để thanh can, bình can, hỗ trợ cải thiện các triệu chứng như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt ở một số thể bệnh phù hợp. Theo chuyên gia, trong điều trị bằng y học cổ truyền, việc lựa chọn vị thuốc không chỉ dựa vào triệu chứng mà còn căn cứ vào thể bệnh, nguyên nhân gây bệnh và tình trạng sức khỏe của từng người. Vì vậy, cùng một biểu hiện nhưng không phải ai cũng được chỉ định sử dụng. Theo BS.CKII Hoàng Thị Thu Hương, Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện 19-8 cho biết: "Không phải tất cả người bị tăng huyết áp đều phù hợp sử dụng hoè hoa. Mỗi trường hợp cần được bác sĩ thăm khám để lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp".
Nghiên cứu hiện đại nói gì về hoè hoa?
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy hoa hòe chứa tới 6-30% rutin (rutozid) – một loại glucozid thuộc nhóm vitamin P rất quý, giúp tăng cường sức bền của mao mạch (thành mạch máu). Bên cạnh đó, dược liệu này còn chứa nhiều flavonoid và các chất chống oxy hóa góp phần bảo vệ tế bào khỏi tác động của các gốc tự do, hỗ trợ sức khỏe hệ mạch máu.
Thành phần rutin trong hoa hòe còn mang lại hiệu quả rất tốt trong điều trị viêm gan siêu vi B, C, giúp tăng cường sức đề kháng cho những người cơ địa gầy yếu, suy nhược cơ thể, lao sơ nhiễm. Trong thực tiễn, hoa hòe thường được phơi khô để hãm nước uống thay trà hàng ngày nhằm lợi tiểu, an thần và giúp dễ ngủ.
Tuy nhiên, chuyên gia lưu ý rằng các kết quả nghiên cứu này không đồng nghĩa với việc người dân có thể tự ý sử dụng để điều trị bệnh. Việc áp dụng cần dựa trên chỉ định chuyên môn và phối hợp với các phương pháp điều trị phù hợp theo biện chứng luận trị của y học cổ truyền.
Bài thuốc từ hoa hòe
Chữa tăng huyết áp:
Bài 1: Hoa hòe 25g, tang ký sinh 25g, hạ khô thảo 20g, xuyên khung 20g, địa long 15g. Sắc uống nước. Nếu mất ngủ gia thêm toan táo nhân sao 15g, dạ giao đằng 25g. Đau ngực gia thêm đan sâm 20g, quả lâu nhân 20g; có cơn đau thắt ngực gia thêm hồ sách 12g, phật thủ 20g, bột tam thất 7,5g; di chứng tai biến mạch máu não gia thêm ngưu bàng tử 25g, câu đằng 30g; vữa xơ động mạch gia thêm trạch tả 20g.
Bài 2: Hoa hòe 15g, cát căn 30g, sung úy tử 15g, sắc uống. Nếu đau tức ngực gia thêm đan sâm 30g, hà thủ ô 30g; hồi hộp trống ngực và mất ngủ gia thêm toan táo nhân 15g; tê tay chân gia thêm sơn tra 30g, địa long 10g; tiểu đêm nhiều lần gia thêm sơn thù 10g, nhục dung 15g.
Đau đầu, choáng váng, ngón tay hơi tê: Nụ hòe (sao vàng), hạt muồng (sao), tâm sen, 3 vị bằng nhau, sao khô, tán bột, mỗi lần uống 5g, ngày dùng từ 10-20g.
Trĩ bị sưng đau: Quả hòe phối hợp với khổ sâm lượng bằng nhau nghiền thành bột hòa với nước bôi ngoài.
Đại tiện ra máu:
Bài 1: Hoa hòe, Trắc bá diệp, Kinh giới tuệ và Chỉ xác, lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột mỗi lần uống 6g với nước cơm.
Bài 2: Hoa hòe sống và sao mỗi thứ 15g, Chỉ tử 30g, tán bột, uống mỗi lần 6g.
Bài 3: Ruột gia lợn 1 đoạn, rửa sạch, nhét đầy bột hoa hòe vào trong, buộc kín hai đầu, đem sao với giấm gạo cho khô rồi tán bột, vê viên to bằng hột nhãn, uống mỗi lần 1 viên với rượu ngâm Đương quy.
Bài 4: Hoa hòe 60g, Địa du 45g, Thương truật 45g, Cam thảo 30g, sao thơm sấy khô, tán bột uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 6g.
Bài 5: Hoa hòe 15g, quả Hòe 15g, Hoạt thách 15g, Sinh địa 12g, Kim ngân hoa 12g, Đương quy 12g, Hoàng cầm 10g, Hoàng liên 10g, Hoàng bá 10g, Thăng ma 6g, Sài hồ 6g, chỉ xác 6g, Cam thảo 3g, sắc uống. Nếu chảy máu nhiều gia thêm Kinh giới 10g, Địa du 15g, Trắc bá diệp sao đen 15g; thể trạng hư yếu gia Đẳng sâm 15g, Hoàng kỳ 15g, Hoài sơn 15g; thiếu máu nhiều gia Hoàng kỳ 15g, thục địa 12g.
Lợi tiểu, an hàn dễ ngủ: Sử dụng hoa hòe khô hãn thành nước chè uống hàng ngày.
Đi tiểu ra máu: Hoa hòe sao 30g, Uất kim 30g, tán bột, uống mỗi lần 6g để chữa niệu huyết; Hoa hòe sao quá lửa, tán bột, uống mỗi lần 3g để trị huyết lâm.
Băng huyết, khí hư: Hoa hòe lâu năm 30g, Bách thảo sương 15g, tán bột, uống mỗi lần 9-12g với rượu ấm để chữa băng huyết; Hoa hòe sao, Mẫu lệ nung, lượng bằng nhau, tán bột, uống mỗi lần 9g với rượu ấm để chữa bạch đới (khí hư máu trắng).
Lỵ: Hoa hòe sao 9g, Bạch thược sao 9g, chỉ xác 3g, Cam thảo 1,5g sắc uống.
Chảy máu cam:
Bài 1: Hoa hòe và Ô tặc cốt, lượng bằng nhau, nửa sống nửa sao, tán bột, mỗi lần lấy một ít thổi vào lỗ mũi.
Bài 2: Hoa hòe phơi âm can, tán bột, rắc lên lưỡi có thể chữa chảy máu lưỡi (thiệt nục).
Chữa viêm loét: Hoa hòe 15g, Kim ngân hoa 15g, sắc với 2 bát rượu uống cho ra mồ hôi. Với tổn thương viêm loét về mùa hạ có thể dùng Hoa hòe 60g sắc đặc rồi dùng bông thấm dịch thuốc bôi lên nơi bị nhiều lần trong ngày.
Lao hạch cổ: Hoa hòe 2 phần, Gạo nếp 1phần, sao vàng, tán bột, mỗi sáng sớm uống 10g khi bụng đói, chú ý khi dùng thuốc không được ăn đường.
Bệnh ngoài da: Hoa hòe sống 30g, Thổ phục linh 30g, Cam thảo 9g, sắc hoặc hãm uống thay trà hàng ngày.
Viên tuyến vú cấp tính: Hoa hòe sao vàng tán bột, mỗi ngày uống 15g với rượu vàng pha loãng nửa rượu nửa nước. Hoa hòe tính hơi lạnh nên những người tỳ vị hư hàn biểu hiện bằng các triệu chứng như hay đau bụng do lạnh, thích chườm nóng, ăn kém, chậm tiêu, đại tiện thường xuyên lỏng nát…thì không dùng được vị thuốc này, nếu cần dùng thì phải phối hợp với các dược liệu có tính ấm nóng.
Lưu ý khi sử dụng hoa hòe
Các chuyên gia khuyến cáo, mặc dù có nguồn gốc từ dược liệu tự nhiên nhưng hoè hoa là một vị thuốc, không phải thực phẩm chức năng hay đồ uống có thể sử dụng tùy ý. Việc tự mua, tự phối hợp hoặc sử dụng kéo dài mà không có hướng dẫn của bác sĩ có thể không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí ảnh hưởng đến quá trình điều trị nếu dùng không đúng thể bệnh.
Người dân khi có các triệu chứng như chảy máu bất thường, đau đầu, chóng mặt hoặc mắc các bệnh lý mạn tính cần đến cơ sở y tế để được khám, chẩn đoán và tư vấn phương pháp điều trị phù hợp. Theo BS Hương, khi muốn sử dụng hoè hoa, người bệnh nên đến gặp bác sĩ để được trực tiếp thăm khám, đánh giá tình trạng sức khỏe, xác định thể bệnh theo y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp với từng trường hợp.