Thời cơ mới mở rộng thị trường cho sầu riêng Việt Nam

Kết nối giao thương 13/08/2026 15:18

Sầu riêng Việt Nam đang đứng trước cơ hội bứt phá khi sản lượng tăng, hệ thống vùng trồng và cơ sở đóng gói ngày càng hoàn thiện, trong khi nhiều thị trường quốc tế tiếp tục mở cửa, tạo dư địa lớn để nâng cao giá trị xuất khẩu.

Với diện tích vùng trồng lớn, sản lượng ngày càng tăng và thêm nhiều thị trường được mở cửa, sầu riêng Việt Nam đang đứng trước cơ hội nâng tầm thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực, mang lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất.

Sầu riêng hiện là một trong những cây trồng có tốc độ phát triển nhanh tại Việt Nam, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026, diện tích sầu riêng trên cả nước ước khoảng 200.000ha, trong đó diện tích đang cho thu hoạch khoảng 129.500ha. Sản lượng dự kiến đạt 2,08 triệu tấn, tạo nguồn nguyên liệu đáng kể cho cả tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.

Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Từ mức 177,7 triệu USD năm 2021, giá trị xuất khẩu mặt hàng này đạt khoảng 3,85 tỷ USD năm 2025, tương đương khoảng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 950,7 triệu USD, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc tiếp tục giữ vai trò thị trường chủ lực với kim ngạch khoảng 871,8 triệu USD, tăng 36,9%.

Không chỉ phụ thuộc vào thị trường truyền thống, sầu riêng Việt Nam đang từng bước mở rộng mạng lưới tiêu thụ quốc tế. Đến nay, sản phẩm sầu riêng tươi đã được xuất khẩu tới hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức mở cửa cho sầu riêng tươi Việt Nam. Các cuộc đàm phán nhằm tiếp cận thị trường Australia, New Zealand và một số thị trường tiềm năng khác cũng đang được thúc đẩy.

Củng cố nền tảng xuất khẩu

Cùng với việc mở rộng thị trường, điều kiện phục vụ xuất khẩu sầu riêng cũng được tăng cường. Tính đến hết tháng 7/2026, cả nước có 1.201 mã số vùng trồng và 120 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng đang hoạt động. Ngoài ra, 1.166 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói đang chờ Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) xem xét, phê duyệt.

Việc mở rộng hệ thống mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói giúp kiểm soát tốt hơn nguồn gốc sản phẩm, chuẩn hóa quy trình sản xuất và đáp ứng các yêu cầu ngày càng chặt chẽ của thị trường nhập khẩu.

Năng lực kiểm nghiệm cũng được đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chất lượng. Đến ngày 5/8/2026, GACC đã chấp thuận 50 phòng kiểm nghiệm, gồm 47 phòng thực hiện kiểm tra Cadimi và 39 phòng kiểm tra Vàng O. Công suất của các phòng kiểm nghiệm đang hoạt động đạt khoảng 13.000 mẫu/ngày đối với Cadimi và 10.000 mẫu/ngày đối với Vàng O.

Tại Tây Nguyên, 6 phòng kiểm nghiệm đã được phía Trung Quốc chấp thuận, với tổng công suất khoảng 900 mẫu/ngày đối với mỗi chỉ tiêu. Khi kết hợp với các cơ sở kiểm nghiệm ở khu vực lân cận và trên các tuyến vận chuyển đến cửa khẩu, năng lực hiện có cơ bản đáp ứng nhu cầu kiểm tra trong thời điểm cao điểm thu hoạch.

sau-rieng-copy_1786591041.jpeg

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được kỳ vọng tiếp tục tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người sản xuất. Việc chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời tăng cường số hóa dữ liệu, góp phần rút ngắn quy trình, giảm thủ tục và nâng cao hiệu quả quản lý.

Với vùng nguyên liệu ngày càng mở rộng, sản lượng lớn, thị trường tiêu thụ được đa dạng hóa cùng hệ thống truy xuất, kiểm nghiệm và kiểm soát chất lượng từng bước hoàn thiện, sầu riêng Việt Nam đang có nền tảng thuận lợi để phát triển bền vững.

Nếu tận dụng tốt cơ hội mở cửa thị trường, nâng cao chất lượng và tổ chức lại sản xuất theo hướng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, sầu riêng có thể tiếp tục gia tăng giá trị xuất khẩu, cải thiện thu nhập cho người trồng và góp phần nâng cao vị thế nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu.