Phó Thủ tướng yêu cầu quản lý chặt chẽ diện tích, tránh tình trạng đua nhau mở rộng sầu riêng
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu ngành nông nghiệp và các địa phương phải rà soát, quản lý chặt chẽ diện tích, đồng thời tăng cường khuyến cáo để người dân có đầy đủ thông tin trước khi quyết định sản xuất, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng đua nhau mở rộng diện tích sầu riêng dẫn đến dư thừa sản phẩm và ảnh hưởng đến thu nhập.
Chiều 10/8, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã chủ trì cuộc họp về tình hình thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 31/7/2026 về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói liên quan đến tiêu thụ, xuất khẩu sầu riêng.
Thúc đẩy xuất khẩu, tháo gỡ vướng mắc về mã số vùng trồng và kiểm nghiệm
Báo cáo tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết năm 2026, diện tích sầu riêng cả nước ước đạt khoảng 200.000 ha, tăng gấp đôi so với quy hoạch ngành hàng trước đây là khoảng 100.000 ha. Trong đó, diện tích cho sản phẩm là 129.500 ha, sản lượng dự kiến khoảng 2,08 triệu tấn. Trong 7 tháng đầu năm 2026, cả nước đã thu hoạch 768.000 tấn sầu riêng; xuất khẩu 493.000 tấn sang hơn 20 quốc gia với giá trị khoảng 950,7 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ. Năm 2025, xuất khẩu sầu riêng đạt gần 1 triệu tấn quả tươi và 117.000 tấn đông lạnh.
Trong 5 tháng cuối năm, sản lượng dự kiến còn khoảng 1,3 triệu tấn, tập trung chủ yếu tại khu vực Tây Nguyên từ tháng 8 đến tháng 10, trong đó Đắk Lắk khoảng 500.000 tấn, Lâm Đồng 300.000 tấn và Gia Lai 58.000 tấn. Do sản lượng tập trung trong thời gian ngắn, yêu cầu đặt ra là phải tổ chức tốt công tác thu hoạch, kiểm nghiệm, sơ chế và logistics nhằm tránh nguy cơ ùn ứ và giảm áp lực trong cao điểm vụ mùa. Với kim ngạch xuất khẩu có khả năng đạt trên 4 tỷ USD trong năm nay, ngành hàng đang đón nhận tín hiệu tích cực khi tháng 7 vừa qua, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam, đồng thời Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đàm phán với Australia, New Zealand và các thị trường khác để mở rộng đầu ra.
Về mã số vùng trồng xuất khẩu sang Trung Quốc, tính đến tháng 7/2026, cả nước có trên 1.200 mã số vùng trồng và 120 mã số cơ sở đóng gói đang hoạt động, cùng hơn 1.100 mã số đang chờ phía Trung Quốc phê duyệt. Về năng lực kiểm nghiệm, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) đã chấp thuận 50 phòng kiểm nghiệm, trong đó có 47 phòng kiểm Cadimi và 39 phòng kiểm Vàng O. Công suất đạt khoảng 13.000 mẫu/ngày đối với Cadimi và 10.000 mẫu/ngày đối với Vàng O, đáp ứng nhu cầu ngay cả trong cao điểm với sản lượng khoảng 800 đến 900 lô hàng/ngày. Hệ thống khẳng định không thiếu năng lực phòng kiểm nghiệm mà vấn đề nằm ở cách thức vận hành, do đó đang chuyển hướng sang kiểm nghiệm tại vườn và cơ sở đóng gói. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đang đàm phán với GACC để thống nhất tiêu chuẩn kiểm nghiệm và cơ chế công nhận kết quả lẫn nhau nhằm giảm thời gian thông quan.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP đã cơ bản tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho các vùng sản xuất lớn. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai chiến dịch “30 ngày đêm” để gắn mã số vùng trồng. Trong chiến dịch này, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất chủ động gắn mã cho tất cả các vườn trồng tương tự như số nhà để hình thành dữ liệu mã định danh phục vụ kết nối dữ liệu. Bên cạnh đó, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân thông tin hệ thống thương vụ đang phối hợp quảng bá hình ảnh sầu riêng Việt Nam, mở rộng thị trường mới và thúc đẩy đàm phán mở cửa thêm các thị trường khác như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, UAE.
Giải pháp căn cơ để nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và phát triển bền vững
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đánh giá sầu riêng là ngành hàng phát triển nhanh, mang lại hiệu quả kinh tế cao và góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, đòi hỏi phải có giải pháp căn cơ, lâu dài để tổ chức lại sản xuất, kiểm soát chất lượng, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm. Phó Thủ tướng chỉ đạo bốn nhiệm vụ trọng tâm gồm: rà soát và tổ chức lại sản xuất quy hoạch vùng trồng; nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc từ sản xuất, thu hoạch đến đóng gói, xuất khẩu; tập trung phát triển hạ tầng sản xuất, đặc biệt là khâu bảo quản, chế biến và logistics; và tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu.
Ngành nông nghiệp phải rà soát, quản lý chặt chẽ diện tích, tăng cường khuyến cáo để người dân có đầy đủ thông tin trước khi quyết định sản xuất, không để xảy ra tình trạng đua nhau mở rộng diện tích sầu riêng dẫn đến dư thừa sản phẩm. Cần khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu nâng cao trách nhiệm, gắn bó với nông dân và địa phương, tổ chức sản xuất minh bạch, bài bản để xây dựng thương hiệu quốc gia cho sầu riêng Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhất là sản phẩm từ các vùng có lợi thế như Tây Nguyên. Về lâu dài, cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cơ sở sơ chế, bảo quản, chế biến tại vùng sản xuất tập trung để nâng cao tỷ trọng chế biến, nâng cao giá trị và giải quyết áp lực tiêu thụ vào vụ cao điểm.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ nâng cao năng lực, số lượng các cơ sở kiểm nghiệm nông sản, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện tại các địa phương. Những địa phương có vùng trồng lớn nhưng số lượng cơ sở kiểm nghiệm còn ít phải chủ động làm việc để bổ sung năng lực. Các cơ quan chức năng phải chủ động nắm bắt nhu cầu, tiêu chuẩn của từng thị trường để cung cấp thông tin, khuyến cáo kịp thời giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất và tìm kiếm thị trường mới.
Đối với UBND các tỉnh, thành phố, Phó Thủ tướng yêu cầu triển khai quyết liệt Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, xây dựng kế hoạch cụ thể, rà soát và quản lý chặt chẽ diện tích sầu riêng, tập trung nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả gắn với liên kết chuỗi và nhu cầu thị trường. Các địa phương phải bảo đảm tiến độ cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và kiểm nghiệm, không để xảy ra ách tắc ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố sẽ phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra ách tắc trong các khâu này. Các bộ, ngành và địa phương cần phối hợp chặt chẽ, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ để bảo đảm sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu trong ngắn hạn và tổ chức lại ngành hàng theo hướng bền vững.