Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026-2030: Sứ mệnh giành giật sự sống trong "thời gian vàng"
Hệ thống cấp cứu ngoại viện không chỉ đơn thuần là phương tiện vận chuyển, mà là tuyến đầu quyết định ranh giới giữa sinh và tử của người bệnh. Để khắc phục những khoảng trống lớn trong mạng lưới điều phối hiện tại, Bộ Y tế đang khẩn trương hoàn thiện đề án mang tính chiến lược nhằm thiết lập một hệ thống y tế hiện đại, liên thông và phản ứng nhanh trên phạm vi toàn quốc.
Ngày 15/5, tại Thành phố Đà Nẵng, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến đề án "Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026-2030". Đây là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa việc triển khai Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và Nghị quyết số 282/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị. Đề án hướng tới mục tiêu bảo đảm tính thực tiễn, khả thi để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức triển khai trên phạm vi toàn quốc.
Cánh tay nối dài của bệnh viện trong thời khắc mong manh nhất
Phát biểu khai mạc hội thảo, GS.TS. Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh vai trò cốt lõi và triết lý vận hành của hệ thống cấp cứu ngoại viện (CCNV). Thứ trưởng khẳng định:
"Khi nói về cấp cứu ngoại viện, chúng ta không chỉ nói về một chiếc xe cứu thương, một tổng đài cấp cứu, hay một kíp nhân viên y tế lên đường trong đêm. Mà đang nói về những phút đầu tiên quyết định sinh mạng con người. Có những trường hợp, ranh giới giữa sống và mất, giữa hồi phục và tàn phế, giữa một gia đình còn nguyên vẹn và một nỗi đau không thể bù đắp, chỉ được tính bằng từng phút. Vì vậy, cấp cứu ngoại viện không phải là phần việc nằm bên ngoài bệnh viện. Đó chính là cánh tay nối dài của bệnh viện, là tuyến đầu của hệ thống điều trị, là nơi ngành Y tế gặp người bệnh trong thời khắc mong manh nhất".
Nhìn lại chặng đường đã qua, hệ thống cấp cứu 115 và các lực lượng tại địa phương đã có nhiều nỗ lực vượt bậc, đặc biệt trong việc xử lý các ca tai nạn giao thông, đột quỵ, nhồi máu cơ tim, ngừng tuần hoàn, cũng như ứng phó với thảm họa, dịch bệnh. Một số tỉnh, thành đã bước đầu hình thành mô hình điều phối thông minh, ứng dụng công nghệ thông tin để kết nối các bệnh viện và huy động đa lực lượng tham gia.
Tuy nhiên, thực tế vận hành hiện nay đang bộc lộ nhiều rào cản mang tính hệ thống. Mạng lưới CCNV trên toàn quốc nhìn chung còn phân tán, chưa đồng bộ và thiếu tính liên thông. Nhân lực tại nhiều nơi chưa được chuẩn hóa, phương tiện, trang thiết bị còn thiếu thốn và cơ chế tài chính chưa thực sự bền vững. Đặc biệt, sự phối hợp liên ngành giữa y tế, công an, phòng cháy chữa cháy, quân đội, giao thông và chính quyền địa phương trong các tình huống khẩn cấp nhiều lúc vẫn chưa đạt được sự nhịp nhàng cần thiết.
"Người dân cần một hệ thống cấp cứu phản ứng nhanh, nhưng hệ thống cấp cứu ngoại viện ở nhiều nơi vẫn còn phản ứng theo từng điểm rời rạc. Người bệnh cần được điều phối thông minh ngay từ cuộc gọi đầu tiên, nhưng dữ liệu, tổng đài, phương tiện, bệnh viện tiếp nhận và lực lượng hiện trường chưa phải lúc nào cũng nằm trên cùng một mặt phẳng vận hành", Thứ trưởng Trần Văn Thuấn thẳng thắn chỉ rõ.
Thực trạng báo động: Mới đáp ứng dưới 10% nhu cầu cấp thiết
Phân tích sâu hơn về những hạn chế nội tại, TS. Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) đã đưa ra những số liệu thực trạng rất đáng suy ngẫm. Dù vai trò của CCNV là tối quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng người dân ngay tại hiện trường và tận dụng "thời gian vàng", nhưng năng lực đáp ứng hiện tại còn khoảng cách rất xa so với nhu cầu thực tế.
Hiện nay, trên cả nước mới chỉ có 23 địa phương quy hoạch mạng lưới CCNV; 30 địa phương giao đầu mối đơn vị chuyên trách cấp tỉnh, trong đó vỏn vẹn 10 tỉnh, thành lập được Trung tâm cấp cứu 115 độc lập. Chưa có bất kỳ địa phương nào, kể cả các đô thị lớn, thực hiện được quy hoạch mạng lưới cấp cứu ngoại viện đa tầng hoàn chỉnh để bảo đảm độ bao phủ toàn bộ dân cư.
Đáng chú ý, TS. Hà Anh Đức chia sẻ: “Hệ thống CCNV mới chỉ đáp ứng được dưới 10% nhu cầu cấp thiết (đột quỵ, tai nạn); chỉ khoảng 43% các trường hợp xuất xe cứu thương đón được người bệnh, các trường hợp không đón được thường do người nhà đã tự vận chuyển đến cơ sở y tế hoặc người bệnh không có nhu cầu cấp cứu nữa vào thời điểm xe cứu thương đến hiện trường”.
Một trong những "điểm nghẽn" lớn nhất nằm ở hạ tầng công nghệ của tổng đài 115. Hiện tại, tổng đài chủ yếu chỉ thực hiện chức năng tiếp nhận cuộc gọi thuần túy để điều xe, hoàn toàn thiếu các tính năng hiện đại như định vị cuộc gọi, ghi nhận, sàng lọc tự động dữ liệu hay lưu trữ và phân tích dữ liệu phục vụ dự báo nhu cầu theo vùng. Tình trạng quá tải diễn ra thường xuyên khi có tới 80% cuộc gọi đến là không đúng mục đích, trong khi quy trình chuyên môn cho các tổng đài viên tại nhiều đơn vị vẫn còn rất hạn chế.
Ở góc độ địa phương, BS CKII Trương Văn Trình, Phó Giám đốc Sở Y tế TP. Đà Nẵng chia sẻ, áp lực đối với hệ thống CCNV ngày càng lớn dưới tác động của tốc độ đô thị hóa nhanh và sự gia tăng dân số cơ học. Riêng với Đà Nẵng, sau khi mở rộng địa giới hành chính, địa hình thành phố trở nên rất đa dạng — từ đô thị trung tâm, ven biển đến trung du, miền núi, biên giới và hải đảo. Đặc điểm này đòi hỏi hệ thống cấp cứu không chỉ phục vụ người dân, du khách mà còn phải đủ năng lực ứng phó với các sự kiện quốc tế, thiên tai và thảm họa quy mô lớn.
Ba câu hỏi lớn và mục tiêu chiến lược đến năm 2030
Để đề án "Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026-2030" thực sự trở thành bệ phóng cho một cấu phần y tế hiện đại, lãnh đạo Bộ Y tế đã yêu cầu các đại biểu, chuyên gia tập trung thảo luận, phản biện thẳng thắn vào 3 câu hỏi lớn:
Thứ nhất, về mô hình tổ chức: Mô hình nào là phù hợp nhất với Việt Nam để vừa bảo đảm tính thống nhất, liên thông toàn quốc, vừa đủ linh hoạt, tương thích với đặc thù của các đô thị lớn, khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, ven biển và hải đảo?
Thứ hai, về cơ chế vận hành: Cơ chế nào để khi người dân bấm số gọi cấp cứu, toàn bộ quy trình từ cuộc gọi đầu tiên đến hiện trường, và từ hiện trường đến bệnh viện tiếp nhận được phối hợp như một hệ thống đồng nhất, thay vì những mảnh ghép riêng lẻ?
Thứ ba, về nguồn lực: Nguồn lực nào để hệ thống vận hành bền vững, dựa trên đội ngũ con người được đào tạo chuẩn, phương tiện đạt chuẩn, nền tảng số thống nhất, cơ chế tài chính rõ ràng và trách nhiệm cụ thể của từng cấp, từng ngành?
Nhấn mạnh tầm quan trọng của tính khả thi, Thứ trưởng Trần Văn Thuấn khẳng định: "Một đề án tốt không chỉ hay trên giấy, mà phải vận hành được trong thực tiễn. Đó là trong đêm mưa, trong giờ cao điểm, trên đường cao tốc, trong ngõ nhỏ, ngoài bãi biển, trên tàu thuyền, ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Cấp cứu ngoại viện chỉ có ý nghĩa khi đến được nơi người dân cần, vào đúng lúc người dân cần".
Đề án đặt ra những mục tiêu cụ thể và quyết liệt đến năm 2030: Tất cả các tỉnh, thành phải kiện toàn mạng lưới CCNV trên địa bàn; 100% cấp cứu viên ngoại viện được cấp phép hành nghề theo đúng quy định; đầu tư tối thiểu 1 xe cứu thương đạt chuẩn trên 100.000 dân; và bảo đảm điều phối, xử lý thành công trên 80% số cuộc gọi cấp cứu. Việc hoàn thiện đề án này kỳ vọng sẽ tạo ra bước đột phá, đưa dịch vụ cấp cứu đến với người dân theo phương châm: Nhanh hơn, đúng hơn, an toàn hơn và có tổ chức hơn.